dimanche 30 mai 2021

CÓ DUYÊN NHƯNG KHÔNG CÓ NỢ - TỪ VŨ

 


CÓ DUYÊN
NHƯNG KHÔNG CÓ NỢ


MỜI QÚY VỊ MỞ NGHE: ĐIỆU BUỒN của cố nhạc sĩ Đào Duy qua tiếng hát của cố danh ca Sĩ Phú


                            Dòng thời gian, cuốn xoay trong hồn ... người ơi
                                     Từng thu chết, lá xanh thay màu, vàng úa tả tơi
                                     Từ miền xa xôi, bỗng dưng tơ sầu, gọi thương nhớ
                                     Lối cũ bơ vơ, tình đã xa xưa, hay còn trong mơ ......

Như 2 nén hương thắp cho
Trần văn Chiểu và Nguyễn Văn Mỹ
đã nằm xuống trước và sau 75.

Thân tặng 2 nhà thơ : Trần Vấn Lệ - Phương Tấn (TrườngSơn)


C ùng lúc với chiến dịch của sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, lần đầu tiên Phương được chỉ định đi Lai Khê với các đồng đội khác : Lam người chỉ huy toán biệt phái, Trân, Vũ bằng chiếc zíp của đơn vị do hạ sĩ Chúng lái. Chúng cũng vừa từ binh nhất được thăng chức hạ sĩ .

Suốt đường đi từ xa lộ căn cứ Dĩ An, qua Phú Lợi, ngang Bình Dương, trên xe mọi người ngủ gà ngủ gật tựa đầu vào những chiếc ba lô cá nhân ôm trong mình, chỉ còn Phương ngồi ngay sau lưng anh Lam vẫn thức. Một lát sau xe vẫn đều đều lăn bánh trên quốc lộ 13 mà Mỹ mới tráng nhựa ngang Bến Cát. Sau khi đã ngáp một hơi dài, sốc lại bộ binh phục cho chỉnh tề, vẫn nhìn phía trước xe Lam lên tiếng:

- Vài phút nữa Phương sẽ biết Lai Khê!. Tại Lai Khê, chúng ta có hai "cảm tình viên": Một là hai Các, thợ hớt tóc ở làng, thực tế anh là một cảnh sát chìm của chi cảnh sát quận Bến Cát. Người thứ hai là bác Bình. Bác Bình rất tốt. Bác là người Bắc, trước đây làm việc cho đồn điền nhưng bây giờ thì không còn làm gì nữa.

- Phương cũng sẽ biết mặt cô Lan con gái bác Bình. Cô Lan là "cảm tình viên đặc biệt" của anh Lam.

Anh Trân, lúc này đã tỉnh táo lúc nghe tiếng Lam nói, vừa đưa khủyu tay thúc nhẹ vào bẹ sườn Phương vừa nói chen vào châm chọc Lam.

- Cô Lan đẹp lắm anh Phương ơi !. Tuy chăm chú giữ tay lái, hạ sĩ Chúng cũng cười cười chêm tiếp.

- Đẹp ! Đẹp gì mà đẹp ! Mày biết cái gì mà lắm chuyện. Lam càu nhàu đáp lời hai người vừa chọc ghẹo anh tuy nhiên nụ cười thoải mái cùng lúc nở ra trên mặt đã phản lại hẳn điều anh vừa thốt ra.

Vũ cũng đã tỉnh. Năm người trên xe cùng cười.

Xe ngừng lại trước trạm kiểm soát. Hai người Việt, một cảnh sát một trung sĩ quân cảnh với huy hiệu của quân đoàn 3 trên chiếc áo nhà binh ngắn tay . Cạnh hai người Việt là hai M.P. Mỹ - quân cảnh Mỹ - huy hiệu số 1 Đỏ.

Sau thủ tục chào hỏi, xe tiếp tục chuyển bánh rồi rời đường chính, luồn lỏi dưới những tàng lá cao su trên một con đường nhỏ, được vun lên khá cao bề ngang chỉ vừa đủ cho hai chiếc xe zíp qua mặt nhau, cũng trải nhựa đường nhưng đã bong tróc vì sự lưu thông. Khỏang 10 phút sau xe đậu lại trước văn phòng dành cho toán biệt phái ở gian cuối một căn nhà gạch dài,nền khá cao tuy rằng cũ nhưng vẫn còn vững chãi, chung với các bộ phận chỉ huy của Lữ đoàn Mỹ.

Mọi người lục tục xuống xe, vào phòng xếp đặt bầy biện vị trí làm việc của mình rồi theo Lam, sau khi anh qua văn phòng đồng nghiệp Mỹ để thông báo sự có mặt của toán, trở ra xe với những chiếc ba lô cá nhân lúc này đã nhẹ bớt được một chút để tới khu lều mà người Mỹ đã dành cho những đồng nghiệp Việt Nam tạm trú trong những khoảng thời gian cộng tác tại đây.

Xế trưa, mặt trời đã lên cao, lấp loáng chiếu, ập xuống xuyên lách qua những tàn lá cây cao su khá rậm không đủ để che ngược lại còn hầm nóng thêm bầu không khí.

Khu lều qúa quen thuộc với những người cũ của toán nhưng mới cho Vũ và Phương.

Phương thấy không có gì khác biệt giữa lều Việt Nam và những chiếc lều dã chiến lớn gấp ba, bốn lần của các đơn vị Mỹ đóng gần đó. Tất cả cũng chỉ một lớp vải kaki dầy xám đậm thoang thoảng khen khét mùi dầu.

Như đã có thói, Trân và hạ sĩ Chúng bước lại vạch cửa lều qua rồi buộc sang hai bên .

- Hầm qúa mày ơi!. Nóng qúa xá!. Mày ra vén hẳn một bên cho đỡ nóng chứ điệu này làm sao mà nằm. Trân vừa ra lệnh cho hạ sĩ Chúng vừa ới gọi:

- Vũ ơi, Phương ơi, phụ thằng Chúng một tay!.

Hai người bước nhanh lại, cùng với Chúng vén buộc một bên lều mé một chiếc hầm. Trên nền xi-măng, trong lều đã có sẵn 6 chiếc giường dã chiến bằng vải bố kê thành hai hàng, ngoài ra không có thứ gì khác.

Chúng chỉ tay về chiếc hầm nói với Vũ và Phương :

- Hầm trú bom đạn của toán mình đó nhưng chưa bao giờ phải sài tới.

Hầm trú được đắp bằng nhiều lớp bao cát thật dầy; gù cao hẳn lên; phất phới mấy bụi cỏ vàng vọt, nhu nhú mọc. Vũ và Phương tò mò, kẻ trước người sau theo nhau bước xuống chui vào hầm. Ở trong, nóc hầm cao nên cả hai vẫn đứng thẳng người đi tới đi lui được. Một tấm ván ép Mỹ dầy ba , bốn lóng tay là tấm phản thay giường khá rộng ba bốn người cũng có thể nằm dài ra được.

Cả hai leo lên, bước ra khỏi hầm. Vũ bước vào lều còn Phương vẫn đứng ngoài dõi mắt nhìn qua hàng xóm, đại đội thám kích Mỹ theo lời anh Trân. Lều của những người hàng xóm được vén cao gọn hẳn cả bốn phía nên Phương có thể nhìn thấy rõ ràng đồ đạc bầy biện bên trong. Những chiếc giường dã chiến kê thành hai hàng, hai đầu những chiếc giường đều nằm sát mé ngoài lều. Những chiếc ba lô, súng ống lỉnh kỉnh nằm ôm gọn ở đầu mỗi chiếc giường nên lối đi giữa lều cũng thật rộng rãi . Các vị chủ nhân của lều người nào người nấy đều trần trùng trục, da đỏ như tôm luộc, trên người họ chỉ còn chiếc quần trây-i. Một số đang cắm cúi nhìn vào tấm gương nhỏ xíu nằm lọt trong lòng bàn tay, tay kia một chiếc dao cạo hoặc một chiếc khăn để cạo rửa râu tóc mặt mũi tẩy cho hết những vết đỏ, vết đen còn chằng chịt mà họ đã quyẹt vẽ trên mặt mũi, đầu cổ, tay chân lúc ngụy trang chuẩn bị đi phục kích bên ngoài căn cứ vào mỗi buổi chiều.

Mọi người ra xe lục tục mang ba lô vào lều, đập phủi lớp bụi đất đỏ đóng trên mặt giường, lôi đồ đạc ra sửa soạn chỗ ngủ. Xếp đặt xong xuôi thì tới giờ đến mess-hall - nhà ăn - ăn trưa. Ăn xong, ngoại trừ hạ sĩ Chúng ở lại làm mấy việc cần thiết cho toán, ba người còn lại nhẩy lên xe do Lam lái tới văn phòng tiếp nhận tài liệu từ bên lữ đoàn chuyển sang rồi cùng phân chia việc phải làm .


♣ ♣

Lữ đoàn 2 Sư đoàn 1 bộ binh Hoa Kỳ đặt trong một đồn điền cao su của người Pháp cũ. Những ngôi nhà gạch trong căn cứ là đầu não chỉ huy của các đơn vị. Những khu "bàn cờ" được chia cắt khá đều đặn vẫn nguyên vẹn những hàng cây cao su ngay hàng thẳng lối kỷ luật vươn lên cao nhưng không đớn đau vì bị cắt cứa tới chảy máu chảy mủ. Những chiếc lều lính màu kaki lớn, nhỏ chen chúc dưới các gốc cao su bên cạnh những ụ, hầm và những chiếc xe nhà binh. Quốc lộ 13, quốc lộ mang tên là “Con Đường Sấm Sét” dẫn từ Bình Dương lên tới Lộc Ninh vào căn cứ được bao che chặt chẽ bằng những lớp hàng rào kẽm gai.

Căn cứ nhìn xuống một thung lũng rừng cây rậm rạp kéo dài nối lên chiến khu D. Ngay trên thung lũng, nằm lấp lửng trong căn cứ, một cánh cổng xe gắn máy có thể chạy qua được, là một khu dân sự gọi giản dị là làng với một tiệm hớt tóc, những nhà giặt ủi quần áo, một ngôi chợ nhỏ và những dãy nhà gạch cũ phần lớn những người cư ngụ trong nhà khi trước họ làm việc cho đồn điền cao su nay đã đổi sang nghề thầu giặt quần áo Mỹ hay làm việc trong các messe-hall, PX ... cư trú.

Bên tay phải cổng ngõ vào làng là một khu mới với những mái tranh thấp nhỏ tiếp đó là những căn nhà khác lớn hơn nằm kề nhau dựng bằng tôle và gỗ thông sơn phết màu mè cho bắt mắt. Khu mới lừ đừ, gậy gừ ngủ vào ban ngày nhưng khi mặt trời vừa xuống bóng là đèn đuốc sáng chưng, mùi phấn son nồng nực, tiếng chai tiếng ly va chạm lách cách cùng sự xuất hiện của các cô gái tứ xứ qua những giọng nói còn đậm nét mộc mạc của các vùng quê. Đây là khu đặc biệt, nằm dài bao vây gần hết một góc căn cứ, chỉ phân cách bằng một hàng rào kẽm gai mà người ta có thể dễ dàng bước qua.

Khu đặc biệt dành cho các người lính chiến Mỹ xa nhà giải khuây sau những cuộc hành quân chết sống và cũng là nơi nương náu của những người con gái trẻ buộc lòng từ bỏ quê hương ra làm nghề bán bar tìm sự sống.

Việc ra vào làng được sự kiểm soát chặt chẽ của quân cảnh Mỹ với sự tiếp sức của cảnh sát Việt Nam từ Bến Cát vào nhờ thế nên từ ngày có mặt Lữ đoàn 2 ở đây không một biến cố quan trọng về an ninh trật tự nào sảy ra.

Buổi chiều sau khi tháp tùng trung úy Lam tới thăm gia đình ông Bình, Phương và Vũ, khoác áo giáp, tay ôm nón sắt có lưới ngụy trang rủ nhau làm một vòng khám phá khu đặc biệt có ánh đèn xanh đỏ huyền ảo mà anh em trong đơn vị đã nói.

Nửa đêm đó, khi đã làm một vòng viếng thăm các bar bia rượu, cả hai đều cũng chán định tìm đường về lều ngủ .

May mắn cho cả hai, Vũ và Phương không ai phải nằm trên lớp vải dầy của chiếc giường dã chiến mà được ngả lưng trên hai chiếc nệm êm ả ... lúc gặp được hai cô gái miền tây, không son không phấn, hình như làm việc tại một mess-hall nào đó trong căn cứ.

Người em được người chị gọi là Tư thân hình mảnh mai còn người chị được cô Tư gọi là "chế" Hai tròn trịa hơn.

Tư, cô em tỏ ra có cảm tình với Vũ, hai người sáp lại rủ rỉ rù rì. Trái lại, "chế" Hai kín đáo hơn người em, ít cười nhưng nụ cười lại rất có duyên với hai đồng tiền nho nhỏ lúm nhẹ trên đôi má. "Chế" Hai chỉ nói để trả lời Phương, câu trả lời không gượng gạo nhát gừng mà êm đềm nhẹ nhàng.


♣ ♣

Dù đã ở cái tuổi 23; mặt mũi sáng sủa, thân thể cao ráo, kể vào loại điển trai, lại thêm tài ăn nói; nhưng Phương chưa hề thực sự biết thế nào là yêu, một thứ tình yêu đam mê say đắm mà Phương được đọc trong truyện ngắn, những tiểu thuyết văn chương . Khi còn đi học anh chọn ban C, ban văn chương; anh cũng đã từng làm thơ nhưng anh chỉ làm thơ một cách tài tử để thỉnh thoảng gởi báo Tiếng Chuông, Sóng Thần ... rồi tự hãnh diện rằng mình cũng có thơ được báo đăng. Nhưng phần lớn mấy bài thơ Phương làm, gởi cũng chỉ được người phụ trách mục thơ của tờ báo trích đoạn một hai câu lồng trong bài "phân tích" cùng lúc với những câu thơ cũng trích một hai dòng của các "mầm non thi sĩ tương lai" khác, những người trẻ có giấc mơ làm thi sĩ chuyên nghiệp.

Ngoài chuyện lâu lâu ngồi tưởng tượng loáy hoáy làm thơ và việc bài vở của trường Phương chỉ khoái được nghe anh Trịnh kể chuyện. Ban đầu Phương chỉ "thích một tý" dần dần Phương "thích mê" nghe cả giờ không chán cho tới khi từ nhà dưới mẹ phải ới gọi:

- Mời hai "ông" xuống ăn cơm !.

Anh Trịnh, một người gọi cha anh là "anh kết nghĩa" đang trong tình trạng "thất nghiệp thường trực" vì đào ngũ trước khi di cư vào Nam năm 53 lúc anh vừa tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt ra, nên không một cơ sở công hay tư nào nhận anh làm việc. Lúc này cha Phương còn trong Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung nhà không có người lớn nào ngoài Phương ra nên anh Trịnh tới ở thường trực với Phương trên căn lầu.

Anh Trịnh kể cho Phương nghe chuyện chính trị chính em, hết chuyện ông Tổng Thống Diệm, nhóm Caravelle, Tướng Nguyễn Chánh Thi, Phan Lạc Tuyên ... lại tới chuyện Tướng Nguyễn Sơn, Tướng Vương Thừa Vũ, đại tá Hồ Hán Sơn ... những "huyền thọai", những "thần tượng" đó đã mê hoặc Phương nên chuyện trai gái chỉ là chuyện nhỏ nhặt lẻ tẻ không đáng kể gì.

Lần gọi tạm là "yêu" đầu tiên của Phương khi gia đình anh còn ở cổng xe lửa số 6 lúc anh đi học trung học Trường Sơn.

Nhà Phương nằm về mé khu trại định cư Tân Sa Châu. Trước mặt nhà, con đường xe lửa chạy từ chợ Bến Thành, qua Hoà Hưng tới, mé bên kia nằm sát đường xe lửa hơn, có ba bốn căn nhà. Một trong số này, với một cây trứng cá um tùm lá, là nhà bà Đại Nam, gọi như thế vì chồng bà làm việc tại rạp chiếu bóng Đại Nam ngoài Sài Gòn. Bà Đại Nam và mẹ Phương hay qua lại giao thiệp vì cả hai đều có chung một sở thích hàng ngày mà họ không tài nào quên, ăn trầu.

Ông bà Đại Nam có hai người con, một trai một gái. Sinh là chị lớn, một cô nữ sinh 15,16 tuổi thân mình cao ráo mảnh mai dáng đi lại còn ẻo lả nên nhìn thấy "vui vui". Cô Sinh theo học trường Trung học Lê Bảo Tịnh. Cứ sáng sáng tới giờ đi học Phương đạp xe lên Trường Sơn còn cô Sinh bó mình trong chiếc áo dài trắng đôi chân sáo nhẹ nhàng trên vỉa hè Trương Minh Giảng xuống Lê Bảo Tịnh bên cạnh một cô bạn.

Mọi việc diễn ra rất bình thường không có gì đáng nói cho tới một buổi tối.

Phương cho đứa em gái mượn chiếc xe đạp đi một vòng. Nó không đi một vòng như lời nó nói mà đi lâu cả tiếng đồng hồ. Vì lo sợ xảy ra chuyện tai nạn lưu thông nên Phương phải đi bộ ra ngã tư ngoài đường chính để tìm. Nơi đây, vào mỗi buổi tối, ở giữa ngã tư cổng xe lửa và góc một con đường dẫn vào khu cư xá kiến thiết, đèn đuốc sáng chưng, hàng chục gánh hàng, đứng có ngồi có cùng hàng chục xe bán thức ăn nước uống hủ tíu, sâm bổ lường, ... đủ món ăn chơi buổi tối. Khách hàng phần lớn từ các khu quanh đó ra vừa mua ăn vừa đi dạo chơi tối.

Trong đám đông người lớn trẻ con lẫn lộn Phương len lỏi tìm, một hồi sau anh cũng gặp được đứa em gái đang lúi húi múc ăn một chén chè sôi nước, chiếc xe nằm chỏng gọng dưới đất. Anh cúi xuống, dựng xe lên để mặc đứa em với chén chè, dắt xe lách ra khỏi đám đông.

Chợt Phương có cảm giác như có người đang nhìn anh ... một cặp mắt đen nhánh...  Sinh cũng có mặt trong đám khách hàng, đúng là cô Sinh đang chăm chú nhìn anh. Hai người cùng nhìn nhau rồi cùng cười trước khi  thực sự ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Những ngày tiếp theo, bằng sự qua lại tích cực của cô em gái "liên lạc viên" Phương và Sinh trao đổi tâm tình. Tình yêu cũng chỉ gọn gàng nằm trong vài chục tờ thư rồi ngừng lại vì buổi hẹn hò đầu tiên mà Phương có cảm nghĩ là anh bị cô Sinh cho anh "leo cây". Hai ngày sau Phương gói ghém tất cả những tờ thư cô viết cho anh kể cả những cánh hoa ướp tuy đã khô nhưng vẫn còn mùi thơm, bảo em gái ôm sang giao trả cho cô Sinh (theo lời em gái anh thuật lại thì khi cầm gói thư cô Sinh đã khóc và căn dặn về nói là cô xin lỗi anh Phương vì cô cũng ... quên bẵng đi cuộc hẹn hò ngày hôm đó).

Tình yêu, nếu gọi như thế là tình yêu, lại tới với anh khi anh lui tới thăm bác anh và các cô chị họ. Nhà bác anh nằm trong một dãy phố ba tầng, ở sát bên cạnh chợ Thị Nghè, trên con lộ từ cầu xuống nhìn ra sông. Những chuyến thăm của Phương, thường xuyên hai hoặc ba ngày một lần, vì hai bác thương anh như con ruột còn ba người chị thì rất thân, thân ngay từ khi còn 4,5 tuổi. Đến nhà bác, anh có thói quen, bắc một chiếc ghế gỗ thấp ngồi trước nhà quan sát sinh hoạt nhộn nhịp của chợ.

Một người con gái cao, mảnh mai, xinh xắn nếu không muốn nói là đẹp, gánh hai chiếc thùng nước cho nhà cô, nhà chỉ cách nhà bác của Phương bốn căn.

- Con Liên, cái con nhỏ làm tàng !. Chị Bé, một trong hai chị họ của anh nói với anh.

Cô Liên vừa gánh qua, gánh lại cặp thùng vừa nhìn anh, anh chàng lạ mặt từ đâu tới ngồi hoài ở đây ... ban đầu chưa có những đổi trao bằng nụ cười mà chỉ qua những cái nhìn dò dẫm, lúc đầu còn liếc sau đó nhìn sơ sơ để theo cuối cùng thì cả hai cùng nhìn cùng cười thiệt tình. Về phần Phương thì cô gái đó cũng "hay hay" nhưng cứ "để đó" có mất đi đâu mà vội mà vàng. còn về phía cô gái thì thực tế hơn: Hai người chị họ của Phương ngạc nhiên vì "trước đó nó làm tàng lắm, không bao giờ con Liên nó lại chịu nói chuyện, chịu qua nhà mình chơi, chịu mượn món này hay món kia như bây giờ ..." , lời Thu, chị họ lớn của Phương.

Cô "gánh nước" đã qua lại giao thiệp với hai người chị họ của Phương để một ngày chị Bé, cười cười cầm đưa cho Phương một lá thư nhỏ. Phương mở đọc mấy giòng chữ ngắn gọn của Liên gởi anh:

Em hẹn anh ở đầu cầu Thị Nghè 6 giờ sáng ngày ... .
Nhớ tới đó nghe !.

Liên.

Nhận lá thư, sau khi đọc Phương cũng không bận tâm cho lắm vì ... sáng sớm mà phải thức để đạp xe từ Cổng xe lửa tới Thị Nghè thì ... thà chết còn hơn .

Phương không tới điểm hẹn vì Phương không muốn chết.

Phương cũng quên Liên cho tới ... ngày đó gần 11 giờ trưa tình cờ Phương "bị" gặp lại Liên ở đường Trương Minh Giảng trước cổng một trường trung học nhỏ khi anh cùng Kiêm người bạn "cúp cua" vừa đứng tán gẫu vừa nhìn ông đi qua cô đi lại trên lề đường cạnh một cô bán thuốc lá lẻ.

Bỗng chợt từ xa, Phương nhìn thấy một chiếc xích lô đạp, hai người con gái ... đẹp ngồi trên xe. Kiêm, bạn Phương thúc vào bẹ sườn Phương nói to: Hai con nhỏ này "láng" qúa mày ơi ! Phương chăm chú nhìn. Một khuôn mặt quen quen nào đó.

- Chết rồi mày ơi !.  

Phương chỉ vừa buột miệng nói với bạn thì ... "bị" Liên nhẩy từ trên chiếc xích lô vẫn còn đang lăn bánh... xuống đường chạy nhào tới ôm cứng người Phương.

Kiêm hoảng hốt bỏ đi. Cô bán thuốc lá lẻ cũng quay mặt nhìn chỗ khác. Chiếc xích lô ngừng bên lề chỗ Phương và Liên đứng. Đang loay hoay suy nghĩ không biết phải ứng phó thế nào thì tiếng cô gái còn ngồi trong xe gọi Liên đã vô tình kịp thời cứu Phương:

- Liên ơi, lẹ lên mày ! Gần tới giờ rồi!.

Nghe tiếng gọi của bạn, Liên bỏ hai tay ra không ôm ghì Phương nữa mà nói nhanh với Phương:

- Em ở tại số 40 hẻm 260 trên đường này. Anh kiếm dễ lắm. Bây giờ em phải đi làm. Em làm trên Olympia. Em đợi anh đó nghe !.

Dứt câu nói, không đợi Phương trả lời, Liên nắm chặt bàn tay Phương giật giật rồi bỏ tay anh quay chân bước lên xe.

Khi chiếc xích lô đã đi xa, Kiêm từ mé trong bước ra gằn hỏi Phương :

- Mày đã làm gì con "người ta" mà con "người ta" lại ôm chầm mày như bắt được ăn trộm vậy ?

- Tao đâu có làm cái gì ! Tao đâu có làm cái gì !.- Qủa thực như thế, Phương chưa có  "làm"   bất cứ một "cái gì" với Liên.

Phương vừa trả lời bạn, vừa hối hả bỏ đi. Đi để chạy trốn những ánh mắt lạ lùng nghi hoặc của Kiêm và của cô bán thuốc lẻ.

Rồi Phương cũng không bao giờ đi tìm gặp Liên mặc dầu anh biết Liên  thương  anh.

Phương "yêu" ba lần, yêu bởi quen quen, yêu vì bị "người ta" nhìn và nhìn "người ta" ... Anh "yêu" nhưng anh vẫn ăn ngon ngủ yên tuy đôi khi lòng có đôi chút bâng khuâng.


♣ ♣ ♣

Tối đó Phương ôm nón sắt tới nhà "chế" Hai. Mặc dù không được mời nhưng Phương cứ tự nhiên ở lại vì "chế" Hai không bảo anh ra khỏi nhà hơn nữa bên kia Vũ cũng vẫn đóng trụ trong nhà cô em gái "chế" Hai. Đêm Lai Khê tối đen một mình lần mò về chưa chắc đã tìm ra được lều ngủ mà có thể còn đi lạng quạng gặp chuyện rắc rối với đám lính canh Mỹ.

Suốt đêm, Phương nằm chung với chế Hai trên giường. Lúc đầu hai người chuyện trò bâng quơ.

- Anh là  bắc kỳ  thì chắc là anh ca hay ? "chế" Hai nói với Phương.

Môn gì chứ nói đến môn ca hát thì Phương được xếp vào loại cừ. Cứ thế lần lượt Phương "mở máy"  ca  cho "chế" Hai nghe . Sau mỗi bài hát là lời phê bình tất nhiên   "Phương ca hay quá xá"  rồi cả hai cùng cười. "Chế" Hai được nghe Phương ca (hát)  hết Sơn Nữ ca , Tiếng đàn tôi, Lá Thư, ... tới   Em tôi, Biệt ly, Tiễn Em ...

Bài hát "chế" Hai thích nhất mà Phương cũng phải   ca   nhiều nhất là Điệu Buồn.


.....................................................................
Trời còn giăng mưa, bến xưa ai đợi ... chờ ai
Thuyền xa bến, có mong quay về, hay đã phôi phai
.................................................................


Cứ như thế cho tới rạng sáng, chương trình "văn nghệ" được "tạm thời chấm dứt tại đây" với sự tưởng thưởng của "chế" Hai cho Phương là một ly cà phê nóng.

Sáng ngày sau, không một lời hẹn hò, Chế Hai đi làm còn Phương khoác lại chiếc áo giáp trên mình, tay ôm chiếc mũ sắt đứng đợi Vũ từ căn nhà tranh của Tư bước ra, cả hai cùng thả bộ quay vào căn cứ tới mess-hall ăn sáng.

Vài đêm sau Phương lại đi với Vũ ra làng. Phương lại thức cùng "chế" Hai một phần thì Phương nghĩ rằng "chế" Hai đang thử thách anh, mà "À vaincre sans péril, on triomphe sans gloire." - chinh phục không hiểm nguy thì chiến thắng cũng chẳng vinh quang , phần khác nữa thì thức đêm bên cạnh "chế" Hai còn hơn nằm một mình trên chiếc giường dã chiến mà rất có thể là lều trống không có ai về ngủ.

Một vài đêm Phương cũng muốn "tiến xa, tiến sát hơn" với "chế" Hai nhưng Phương không đạt được mục tiêu. Tuy thế mỗi buổi chiều sụp tối "chế" Hai như chờ đợi, niềm nở đón Phương.

Nửa tháng sau Phương lại theo mấy anh em trong toán biệt phái quay về Dĩ An không báo trước sự ra đi của anh với "chế" Hai. Phương cũng không bao giờ thắc mắc mỗi buổi tối "chế" Hai có còn đợi chờ Phương hay không nữa ?.


♣ ♣ ♣

Sáu tháng qua đi, Sinh biệt phái Lai Khê trở về đưa cho Phương một tờ giấy xếp làm tư, theo lời Sinh thì Sinh đã nhận tờ giấy này được hơn nửa tháng rồi. Phương mở tờ giấy, giản dị chỉ với vài hàng chữ nắn nót viết:

Em muốn được gặp anh.
Em,

Hai.

Sau khi đọc mấy hàng chữ của Hai viết Phương cũng muốn gặp lại Hai xem có điều gì quan trọng mà Hai muốn nói với Phương rồi Phương tự nhủ sẽ đến gặp Hai khi mình trở lên Lai Khê nên Phương không bận tâm tới tờ giấy gấp 4 đó nữa.

Thời gian trôi nhanh. Chuyến công tác lên Lai Khê lần này chỉ có Vũ và hạ sĩ Chúng tháp tùng. Trên đường đi, Vũ nhắc tới cô Tư làm Phương chợt nghĩ đến "chế" Hai. Ngoài "chế" Hai ra Phương đâu có quen biết một phụ nữ nào khác nữa ở đây.

Căn cứ Lai Khê đã đổi thay.

Khu đặc biệt ngoài làng biến mất. Những mái nhà tranh nho nhỏ trong đó có nhà của Tư và nhà của "chế" Hai cũng không còn. Sinh hoạt trong làng trầm hẳn xuống.

Hai ngày Vũ theo Phương lái xe truy tìm hai chị em "chế" Hai ở các mess-hall, ở những nơi khi trước có người Việt làm với hy vọng một trong hai chị em Hai vẫn còn hiện diện tại Lai Khê. Phương hỏi hai Các người thợ hớt tóc cảnh sát chìm, Phương hỏi mấy anh em thông dịch viên làm việc ở các đơn vị của Lữ đoàn ... Không một ai biết Hai, giản dị vì Hai có thể không phải là tên trên giấy tờ vì có rất nhiều người đàn bà con gái được gọi là Hai theo thứ bậc gia đình tại miền Nam. Tất cả mọi người đều chỉ cho Phương biết một chi tiết: Trong thời gian gần đây nhiều cô gái Việt Nam trong căn cứ phải nghỉ việc và đã rời bỏ Lai Khê.

Khi Phương quay về Dĩ An, Phương đã không nói cho Hai biết.

Hai đi, Hai vĩnh viễn đi khỏi Lai Khê để về lại một vùng nào đó ở hậu giang quê hương của Hai hay Hai đi đâu không bao giờ Phương biết được!.

Hai đi, trước khi phải đi, Hai đã cho Phương một chứng tích duy nhất, cuối cùng thay lời vĩnh biệt:

Em muốn được gặp anh.
Em,

Hai.

"Chế" Hai để lại trong tâm trí Phương một điều gì đó rất khó diễn tả bằng lời, một thoáng buồn nhớ, một thoáng nuối tiếc, một thoáng bâng khuâng, nhất là hai chữ   "tại sao".

Tại sao Phương không hỏi tên tuổi rõ ràng của Hai? Tại sao Phương không hỏi quê quán của Hai ? Tại sao Phương không hỏi gì về chuyện chồng con của Hai ... trong lúc Phương có quá đủ thời gian để hỏi. Gương mặt đầy đặn với hai đồng tiền nhỏ trên gò má rất "duyên" của "chế" Hai không thật rõ nét trong tâm trí Phương. Thân thể đầy đặn của "chế" Hai, thịt da chưa thật quen mùi đến ngay cả một nụ hôn cũng còn chưa có. Tiếng nói, nụ cười nhẹ nhàng của "chế" Hai... tất cả đều phảng phất, nhạt nhoà, bàng bạc như một mùi hương, bảng lảng như một đám mây, như những làn khói thuốc Phương hút... hờ hững quyến cuộn tỏa lên để tan biến.

Phương đã     "có"    "chế" Hai,     Phương cũng    "không còn"    "chế" Hai .

Phương chỉ như một người yêu chuộng hoa. Yêu hoa Lan, hoa Cúc, hoa Thạch thảo, hoa Mẫu đơn, hoa Thược dược, hoa Hồng ... yêu tất cả các hoa nhưng yêu cũng chỉ để yêu, yêu theo mùa, yêu theo tháng, yêu theo hoàn cảnh ...

Phương yêu hoa nhưng lại không chú tâm  thăm nom, chăm sóc hoa.

Phương    yêu hoa một hơi,  yêu hoa một hồi ,  yêu hoa một chập   .  Yêu xong Phương    gác hoa qua một bên ,   gói kín hoa lại trong ký ức   để bất chợt một giây phút nào đó  khi tình yêu đã bay xa  anh hồi tưởng, anh bâng khuâng tiếc nuối.

Phương nghĩ tới hai câu của bản nhạc nhiều lần "chế" Hai yêu cầu Phương ca cho "chế" Hai nghe trong hơn mười đêm "không ngủ" của hai người:


Tàn một cơn mê, ái ân chỉ còn ... là tê tái
Nước mắt thôi rơi, tình đã xa xôi, sầu kín khung trời.


Phương chưa kịp   rơi nước mắt   nhưng Phương có muốn tìm "chế" Hai cũng sẽ chỉ như hai câu cuối của bản Điệu Buồn:

Và còn gì đâu, dáng xưa êm đềm, mùa xanh đó
Gió cuốn tả tơi, sầu đắng lên môi, mộng vỡ tan rồi.

Vĩnh biệt "chế" Hai !.

Vĩnh biệt một loài hoa suốt đời Phương không bao giờ biết được tên !.

Kể từ ngày đó không có gì làm Phương hăm hở, không còn gì làm Phương rạo rực mỗi khi nhận lệnh biệt phái lên Lai Khê .

Troyes, Pháp ngày 15.01.2021


TẾT DƯỚI HẦM VÀ HỎA TIỂN 122 LY

 



TẾT DƯỚI HẦM

VÀ HỎA TIỂN 122 LY


Mời mở nghe: Phiên Gác Đêm Xuân của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua tiếng guitare của cố nhạc sĩ Vô Thường



C uối năm và đầu năm năm đó.

Lên Lai-Khê lần này chỉ có 3 người. Thy, Phương và Bòng, tài xế người Hoa Chợ-Lớn mới được bổ sung để thay thế Quảng thuyên chuyển về Qui Nhơn, gần gia đình anh ta.

Chàng tài xế người Hoa Chợ-Lớn con nhà giầu nhưng đến tuổi động viên buộc lòng phải vào lính .

"Nhất thân nhì thế" , anh được lọt vào danh sách tuyển mộ "trực tiếp" của Trung-Tâm, rất có thể không cần phải ắc-ê luyện trườn tập bò gì ở Trung-Chánh Hốc-Môn (*), chỉ cần cẩn thận học để biết phân biệt thế nào là những cái lon cao thấp lớn nhỏ của sĩ quan, hạ sĩ quan... và tập đứng thẳng người ra ... chào ... là đủ.

Kiểu đứng chào của Bòng rất hài hước .

Thân thể mảng khảnh, anh cố đứng cho thật thẳng nhưng đôi chân vòng kiềng trong chiếc quần nhà binh bó sát làm cho Phương tự nhiên phải bật cười vì nghĩ tới kiểu đứng của hề Charlot trong phim diễu. Được một cái, vì phải buôn bán giao thiệp nhiều nên Bòng nói tiếng Việt rất giỏi.

Hai ngày trước Tết, Thy năn nỉ Phương:

- Phương ơi. Mày độc thân ở lại đây với thằng Bòng, còn tao, mày nhường cho tao về Sài-Gòn ăn Tết với vợ con tao !.

- Không à, đâu phải độc thân mà phải ở lại. Tôi cũng muốn về Sài-Gòn như anh vậy. Phương nhăn mặt trả lời.

- Tao cũng biết thế, chưa bao giờ tao vắng mặt trong nhà mấy ngày Tết. Nhất là thằng Tâm nó sẽ hỏi mẹ nó hoài ...

Nghe Thy nhắc tới con trai anh, Tâm, thằng bé dễ mến của Thy mới 5 tuổi, nó cứ đeo theo Phương mỗi khi anh tới nhà Thy chơi.

Phương hơi chùng lòng, tưởng tượng đến cảnh vợ con Thy.

Thy và vợ là người Đà-Nẵng, tại Sài-Gòn, hai vợ chồng không có ai thân thích họ hàng nào. Những người thân của hai vợ chồng Thy là mấy đồng nghiệp như Lam, Trâm, Phương... Vợ Thy và thằng con trai cả hai mẹ con sẽ chỉ biết loay hoay trong nhà trong mấy ngày Tết.

Thấy Phương không phản ứng gì Thy nói thêm :

- Ừ, tội nghiệp thằng Tâm con tao, hai mẹ con nó...

- Thôi ông ơi, đừng chơi đòn "tâm lý chiến" để tôi phải siêu lòng. Phương chận ngang, tuy nhiên anh đã mềm lòng dù rằng chưa nói ngay ra.

- Tao nói thiệt mà...mày cứ tưởng tượng đi...thông cảm cho tao mà...

Phương nghĩ ngợi :

Tết đầu tiên Phương vắng mặt trong gia đình, có Thy thì ba ngày Tết cũng còn có người để tán gẫu bông đùa. Ở lại với Bòng thì thật chán đời hết nước nói. Nó là lính mới toanh nào biết ất giáp gì khác ngoài chuyện loay hoay bên cạnh chiếc xe, 3 lần lên mess-hall ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều phưỡn bụng hoặc làm những việc nho nhỏ rồi vào lều nằm thẳng cẳng ra ngủ hay dở một cuốn sách đầy chữ tầu ra đọc hoặc nghe cái transistor xì sồ tiếng tầu mà Phương chẳng biết nói cái gì.

Tưởng tượng đến cảnh vui vẻ ấm cúng trong ba ngày Tết của gia đình Thy, bộ mặt đáng yêu của Tâm khi gặp mặt ba nó, Phương nhượng bộ:

- OK, ông cứ yên tâm về Sài-Gòn còn tôi sẽ thủ trại. Hơn nữa mấy bữa nay công việc cũng chẳng có gì, ông cứ về đi. Nhớ khi lên phải đem bánh chưng, kẹo mứt vớ vẩn cho tôi và thằng Bòng nghe ông!.

- Cái gì thì khó chớ cái đó thì dễ ợt à!. Vợ con tao sẽ rất bất ngờ khi tao về tới nhà. Thy mừng hớn hở.

Thế là, ngay trưa ngày 28, Thy nhẩy lên trực thăng Mỹ về Sài-Gòn.

Buổi chiều, không rủ rê được Bòng đi ra ngoài làng chơi với anh, Phương đành một mình khoác vào người chiếc áo giáp, tay ôm nón sắt, thả bộ một vòng xuống làng cho đỡ buồn .

Không thân thiện lắm với ông Bình dù rằng nếu Phương có tới thì sẽ được đón tiếp niềm nở, hơn nữa nhà ông Bình chắc cũng đang rộn rã chuẩn bị Tết , nếu tới chỉ tổ làm phiền cho người ta thôi, anh nghĩ.

Ngoài làng, tiệm hớt tóc của hai Các đóng cửa, mọi nhà đều đang chuẩn bị đón năm mới, tiếng dao thớt lách cách, vài chậu mai để trên hè sắp đang hé nụ, mấy chậu cúc vàng hoe đặt trước cửa.

Tiếng nhạc từ một chiếc radio nào đó vẳng ra bài hát Ly Rượu Mừng :

........ Kìa nơi xa xa có bà mẹ già,
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhoà.
Chúc bà một sớm quê hương,
Bước con về hoà nỗi yêu thương.
Á a a a,
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính,
Á a a a,
......................
(**)

Phương tự nhủ mình cũng không nên ghé vào nhà bất cứ người quen nào, anh lững thững tiếp tục đi trên con đường duy nhất của làng. Đi tà tà thì cũng chỉ vài phút là đã đến cuối đường bên mép thung lũng .

Lúc trước, trong vài căn nhà gạch ở khúc này cũng còn một vài cô gái lạ không biết từ đâu tới tuy nhan sắc không mặn mà nhưng có thể chia xẻ được nỗi buồn của những kẻ xa nhà như Phương nhưng bây giờ thì tĩnh mịch "vườn hoang nhà trống" chẳng có một con ma nữ nào.

Nắng chiều vàng vọt còn len qua những đám lá cao su , buồn bã Phương quay trở lại, lần này anh rảo bước thật nhanh về lều. Cả căn cứ đều yên ắng. Phương nghĩ: Đến ngay cả G.I. Mỹ cũng còn nghỉ để ăn Tết mà mình thì thất thểu ở đây ...

Tới lều nhìn thấy Bòng đang nằm trên giường đọc sách bên cạnh chiếc transistor lái nhái tiếng tầu. Phương cũng không gợi chuyện với nó vì anh biết nói chuyện với nó thì thà nói chuyện với đầu gối còn sướng hơn. Anh ngả lưng xuống chiếc giường của mình, nằm ngửa mặt nhìn trần vải kaki lều đợi giờ qua mess-hall ăn tối.

Ngày hôm sau, công việc diễn ra bình thường như những ngày trước : Phương lại lên văn phòng, lại lục lọi mớ tài liệu nhỏ bên Lữ đoàn mới chuyển sang lại đọc, lại tìm, lại ghi ghi chép chép ... tin tức đối phương. Tin tức thu thập được từ mớ tài liệu mới cũng chẳng có gì lý thú. Phe bên kia, trong rừng, cũng nghỉ ăn Tết , Phương nghĩ.

Buổi chiều, khi đã làm xong bổn phận trong ngày, Phương thu xếp gọn gàng bàn giấy, với tay cầm chiếc nón sắt chụp lên đầu ra khỏi phòng làm việc. Anh tạt ngang văn phòng biệt đội lữ đoàn nói vài câu bông đùa "vô tội vạ" với Tom chỉ huy phó và mấy đồng nghiệp Mỹ rồi lững thững trở về lều rủ thằng Bòng qua mess-halll ăn tối. Ăn xong cả hai trở lại về lều, lại cởi đôi bốt-đờ-sô nặng chịch dưới chân, lại cởi quần áo, lại lấy khăn đi tắm, lại lục đục thu xếp vài thứ lặt vặt khác rồi lại đi ngủ.


♣ ♣

Tối đó ,

Đùng ! Đùng ! Đùng ! ....

Một loạt tiếng nổ dữ dội làm Phương bật người chồm dạy, dụi mắt, tỉnh ngủ hẳn với tiếng còi hú ầm ĩ báo động bị địch pháo kích vang lên, chấn động cả màn đêm cùng lúc tiếng kêu, tiếng gọi , tiếng ra lệnh, tiếng súng ống lách cách va chạm nhau, tiếng chân chạy ở mé xa , trộn lẫn từng tràng súng nổ ở mé rừng ngoài căn cứ và tiếng trực thăng từ phi trường trong căn cứ phần phần bay lên ... Phương đứng lên thật nhanh rời khỏi giường, chẳng cần nghĩ tới súng ống binh phục gì khác anh quờ quạng tay mò tìm chiếc nón sắt chụp lên đầu. Lúc này Bòng đã giật mình thức. Trong bóng đêm chập choạng anh thấy nó vẫn ngồi trên giường, nó chưa tỉnh ngủ hoặc vì chưa biết ất giáp chuyện gì đang xảy ra. Phương bước nhanh tới, chụp cánh tay Bòng, vừa lôi nó anh vừa la lớn:

- Mình bị pháo kích. Lẹ lên không thì chết Bòng ơi!.

Bòng bị lôi từ trên giường chưa kịp chuẩn bị nên bị ngã ngồi bịch dưới nền xi măng, Phương không biết nó có bị đau hay không, anh vẫn giữ chặt cánh tay nó, kéo nó :

- Bị pháo kích, bị pháo kích, xuống hầm lẹ lên Bòng ơi!.

Lúc này chắc nó đã hiểu nên chững người lại đứng phắt lên, giật cánh tay ra khỏi tay Phương rồi chạy thật nhanh ra khỏi lều. Cả hai, kẻ trước người sau, cùng nhẩy xuống chui vào hầm trú.

Tiếng đùng, đùng, đùng, hết loạt trước tới loạt sau vẫn tiếp tục.

Phương nghe tiếng những khẩu ca-nông của tiểu đoàn 6 pháo binh Mỹ từ căn cứ cũng bắn trả về mé thung lũng rừng nhưng tiếng nổ của những hoả tiển 122 ly vẫn nghe rõ ràng, rành mạch hơn.

Cứ như thế, những tiếng nổ, lớn, nhỏ, đều đặn xen vào hồi còi báo động trộn lẫn tiếng còi xe cứu thương trong căn cứ từ mé quốc lộ 13 vọng lại.

Lần thứ nhất trong đời Phương từ khi còn nhỏ, đi học, lớn lên, đi lính, chưa bao giờ Phương bị nằm dưới một cái hầm trú để tránh đạn pháo kích dữ dội như vậy. Phương nghĩ nhất định lần đầu tiên trong đời Bòng bị "thưởng thức" một trận pháo kích như anh.
     Suốt đêm, trên người anh chỉ độc một chiếc quần đùi và một cái áo may-ô nhưng trên đầu lại có chiếc mũ sắt không còn nặng như mọi ngày, lúc thì anh ngồi co mình lại, lúc thì đứng lên nép mình sát vách hầm, tim ngừng đập theo nhịp độ nổ của đạn bắn vào, bắn ra. Phương không biết Bòng ngủ thức thế nào, có run như con cầy sấy hay không, anh chỉ biết rằng Bòng nín khe từ khi chui xuống hầm.

Sau mỗi loạt nổ, một sự im lặng kỳ lạ, rợn người. Phương mở mắt thao láo để đợi, đợi nín thở, đợi hồi hộp... vài giây sau lại một loạt tiếng đùng, đùng, đùng. Dù không biết nổ ở đâu nhưng đầu Phương cũng vẫn cứ cúi xuống, mắt vẫn nhắm lại ... Một hồi sau khi nhận biết rằng hỏa tiền không rơi trúng hầm của anh, anh thở phào nhẹ người, rồi anh lại mở mắt, anh lại để đợi.

Nhắm mắt, mở mắt, hồi hộp, thở phào ... tất cả cái vòng luẩn quẩn đó quay tới quay lui làm Phương tự nhiên bực mình buột miệng la lớn như nói với đối phương ở ngay trước mặt anh:

- Bắn cái gì mà bắn hoài !.

- Cái gì , cái gì ?. Bòng như bị giật mình từ một góc hầm ở dưới chiếc phản hỏi vọng ra.

- Tao bảo tụi nó bắn cái gì mà cứ bắn hoài!.

Không nghe tiếng Bòng trả lời nhưng một đợt đùng, đùng, đùng lại vang lên như để đáp lại lời Phương.

Đều đặn cứ như thế thêm vài chục đợt. Bớt sợ Phương nhẩy lên chiếc phản ván ép ngồi bó gối nép sát một bên hầm, chăm chú lắng tai nghe một hồi thật lâu, anh nhận thấy cứ sau tiếng nổ đùng, đùng của loạt hỏa tiển lại có tiếng bựt, bựt, nhỏ hơn . Phương đoán tiếng bựt, bựt, nhỏ là tiếng khởi đầu khi hỏa tiển được bắn lên còn tiếng đùng, đùng là tiếng nổ khi hoả tiển chạm đất.
     Cứ một tiếng bựt chỉ chừng chưa đầy một phút sau lại nghe một tiếng đùng. Như vậy là ở ngoài rừng, đối phương có nhiều dàn phóng , những dàn phóng đặt không xa căn cứ vì anh còn nghe được tiếng đi của đạn lúc bắn ra. Cứ thế, mỗi khi nghe tiếng bựt, bựt, là Phương nhắm mắt, anh nghĩ nếu mình còn nghe được những tiếng đùng, đùng, tức là anh và Bòng vẫn còn sống. Cái trò chơi "lóng tai nghe tiếng khởi đầu, lóng tai nghe tiếng sau chót" nguy hiểm và mệt mỏi của Phương kéo dài suốt đêm cho tới khi mặt trời như uể oải hơn những ngày khác len lỏi được qua những chòm lá cao su.

Ngày đầu tiên, tình hình trong căn cứ vô cùng khẩn trương. Theo quy luật sau khi bắn pháo bình thường là đến loạt tấn công ào ạt của các đơn vị chủ lực bộ binh. Tuy nhiên sự việc này đã không xảy ra. Đối phương chỉ bắn pháo mà thôi như vậy cũng yên tâm được phần nào vì anh cũng tưởng tượng nếu chủ lực bộ binh của đối phương tiến công thì nhất định sẽ có nhiều cán binh vũ khí gấp trăm ngàn lần hơn anh còn anh thì chỉ một khẩu súng lục 6 viên đạn đeo cho oai, Bòng còn ngon lành hơn anh vì nó có được khẩu carabine.

Thức suốt đêm, nghe tiếng bựt, đùng mà thấy mình vẫn còn sống lại cũng không chút mệt mỏi nào chắc có lẽ cũng nhờ vào tiếng bựt, tiếng đùng, nên khi trận pháo đã tạm thời ngưng Phương bước lên mấy bậc đất ló đầu nhìn chung quanh.

Những cây cao su trong khu vực vẫn đứng thẳng, chiếc lều vải của biệt đội và những chỗ ở của hàng xóm G.I. Mỹ trong khu vực vẫn còn nguyên vẹn. Phương thấy vắng tất cả những người hàng xóm, đơn vị thám sát, họ đã ra ngoài hay tới những vị trí phòng thủ trong căn cứ. Trên đường đi, khác hẳn thường lệ, không bóng dáng một anh G.I. nào, không một chiếc xe chạy .

Dạn dĩ hơn, Phương chống tay bước ra khỏi hầm nhìn về phía mess-hall xa xa bên kia đường. Một vài người lính Mỹ khoác áo giáp dầy cộm, đầu đội nón sắt đi vào đi ra nhà ăn. Anh đánh hơi được mùi thức ăn thoảng thoảng có thể vì anh đang đói bụng, thật đói bụng. Cơn đói làm cho anh trở thành mạnh dạn hơn. Đứng ngoài Phương nói vọng xuống hầm bảo Bòng lên để đi ăn.

Bòng không chịu nhúc nhích, trả lời ra :

- Không !. Ông có muốn chết thì cứ đi ăn một mình đi .

Phương nói tiếp:

- Đã vậy tao đi một mình đó nghe!. Ở trong hầm hay ở mess-hall số chết là chết Bòng ơi!.

Bòng vẫn chưa chịu chui ra. Phương phải nói to hơn để Bòng nghe.

- Mày muốn làm con ma đói hay sao? Chết mà no cũng còn hơn là chết mà bụng trống rỗng. Đi, đi, đi. Nếu chết thì mày cũng đâu có chết một mình vì đã có tao!. Mày không đi thì tao đi, hỏa tiển mà rơi ở đây mày sẽ chết một mình!.

Nghe câu nói hù của Phương, Bòng nghĩ rằng Phương có lý. Chàng ta cũng đói, nhất là sợ bị chết một mình, nên lục tục leo ra khỏi hầm, vừa phủi phủi người vừa bẽn lẽn cười .

Hai thầy trò vào lều đóng bộ chỉnh tề, rót nước chứa trong chiếc can xăng ra thấm khăn lau mặt, đầu đội lại chiếc nón sắt, mình mặc lại chiếc áo giáp, làm ra vẻ hiên ngang dẫn nhau đi dưới mép trủng của con đường, qua đám cây cao su... để khỏi bị... hỏa tiển rơi trúng u đầu.

Vào tới mess-hall, bên trong cũng có một vài người G.I. mũ sắt trên đầu, áo giáp trên người đang cắm cúi ngồi ăn .

Sau khi lấy khay, muỗng nĩa, Phương lấy thêm mấy qủa táo nhét vào túi quần, Bòng cũng bắt chước làm theo.

- Lấy táo về dự trữ trường hợp mình không thể đi qua mess-hall này ăn được thì mình cũng có cái để ăn dằn bụng. Phương nói với Bòng.

- Dạ. Bòng đáp .

Hai người tìm một chiếc bàn trống, đầu vẫn chiếc nón sắt, mình vẫn cũng áo giáp ngồi xuống ăn ra vẻ tự nhiên.

Chỉ vừa nhai, nuốt được mấy miếng khoai tây chiên với hai miếng thịt heo sốt mà Phương vừa cắt nhỏ trong khay là lại nghe ... đùng, đùng, đùng, tiếng còi hụ lại réo inh ỏi ... cùng lúc với tiếng xô sát của bàn ghế quanh anh. Phản ứng của những lính Mỹ nhanh hơn anh và Bòng. Phương và Bòng vẫn còn ngồi trên ghế thì họ đã núp mình ngay dưới những chiếc bàn mà họ vừa ngồi ăn. Bòng đứng lên nhưng một ý nghĩ vừa thoáng nhanh trong đầu Phương, anh nắm áo nó kéo lại rồi nói :

- Nếu hỏa tiển mà rơi ở đây thì mày và tao đã chết ngắc rồi. Ngồi xuống ăn đi, ăn nhanh rồi còn về hầm.

Bòng nghe lời, cả hai lại cắm cúi cắt cắt, nhai nhai , lần này thì nhai đàng hoàng, nuốt ngon lành ... mặc kệ mấy chàng Mỹ vừa lóp ngóp từ dưới bàn chui ra nhìn hai tên lính Việt-Nam crazy - điên rồ - không sợ bị trúng hỏa tiển.

Rồi hoả tiển lại đều đặn rơi (***) nhưng không ở khu vực lều của Phương mà ở trong trại, mé nằm gần quốc lộ 13.


♣ ♣ ♣

Hai ngày đêm liên tục chịu trận theo nhịp độ của hỏa tiển 122 từ ngoài bắn vào cùng tiếng còi hụ réo lên từng chập.

Ban đầu thì tiếng còi hụ vang sau tiếng bom nổ, ngày hôm sau tiếng còi hụ vang lên trước tiếng hỏa tiển bắn vào rồi như một quy tắc cứ mỗi lần nghe tiếng còi hụ Bòng cùng với Phương chụp nón sắt lên đầu nhẩy xuống hầm trú . Sau một loạt nổ hai thầy trò lại chui lên vào lều lột bỏ chiếc mũ sắt đè nặng trên đầu trong lúc chờ đợi tiếng còi hụ và loạt nổ mới.

Cứ như thế, còi hụ bom nổ, nhẩy xuống chui lên hầm... riết cũng quen.

Trên những con đường đất đỏ ở khu lều Phương, dù thưa thớt nhưng cũng có một vài chiếc xe chạy tới chạy lui cùng tiếng người nói loáng thoáng từ xa không còn thật im ắng nặng nề nữa.

Qua chiếc radio transistor nhỏ mà Bòng ôm khư khư trong ngực, Phương bắt nó phải để đài Việt Nam cho anh nghe, nên Phương biết được những tin tức chiến sự ở mọi nơi. Anh chú tâm nhất là tại Sài-Gòn, loáng thoáng có đánh nhau ở Gò-Vấp, còn mặt Chợ Lớn khu vực nhà của Bòng không có gì xảy ra.

Sáng ngày hôm thứ ba của cuộc pháo kích, sau khi đã nghĩ tới nghĩ lui, Phương quyết định anh phải về Sài-Gòn càng sớm càng tốt.

Nếu Gò-Vấp mà có đánh nhau thì thế nào cũng liên quan tới cha anh, cha anh là một cấp chỉ huy cảnh sát tại đây , đã thế trong gia đình anh, mẹ thì không biết gì ngoài việc nội trợ, chỉ còn ba đứa em gái, ba đứa em trai ngờ ngệch mà nhà lại còn nằm cạnh phi trường Tân-Sơn-Nhất nơi đang có giao tranh.

Phương nóng lòng, bàn với Bòng:

- Không biết gia đình tao ra sao? Nếu mày dám ở lại đây một mình thì tao sẽ về Sài-Gòn !.

- Ông về bằng cách nào ? Đường quốc lộ là không được rồi đi là chết ngay !.

Nghe Bòng trả lời. Phương suy nghĩ một lúc lâu. Anh đã tìm ra phương cách tuy rằng chưa có gì chắc ăn lắm nhưng anh phải làm thử, anh sẽ lên ngay bộ chỉ huy Lữ đoàn nói chuyện với hy vọng mấy người sĩ quan ở Lữ đoàn sẽ có cách giải quyết được. Phương quyết định rồi nói với Bòng :

- Yên trí, tao sẽ có cách. Tao về bằng trực thăng như ông Thy!

- Trực thăng ở đâu mà ông về ?

- Tao sẽ tìm ra được trực thăng ! Phương trả lời Bòng, rồi tiếp:

- Bây giờ mày ở nhà, tao lên văn phòng, chút nữa tao sẽ về.

- Ông lên trên đó làm gì, bom đạn lung tung như thế này, ông lên để kiếm cái chết hay sao chớ ?

- Mày yên tâm, còn lâu tao mới chết!. Lúc nào hở miệng ra là mày cũng chỉ nói chết, chết..!. Bực mình, Phương la Bòng.

Không đợi phản ứng của Bòng, Phương chui ra khỏi hầm, mặc kệ tiếng nổ đầu mà cũng mặc thây cho tiếng nổ cuối. Phương chẳng cần lóng tai nghe thêm cho mệt người vì Phương cần phải về Sài-Gòn, về càng sớm càng tốt. Phương phải nghĩ cách thức nói thế nào để có trực thăng đi.

Trên đường tới bộ chỉ huy Lữ đoàn vắng vẻ không người qua lại trừ vài chiếc xe hối hả chạy, lúc thì Phương đi trên đường khi lại len lỏi dưới những hàng cao su. Anh đi thật nhanh, nhưng không chạy vì nghĩ "bọn Mỹ nhìn thấy sẽ cười". Hơn 15 phút sau Phương cũng tới được dãy nhà của bộ chỉ huy Lữ đoàn.

Nhẩy nhanh trên mấy bậc tam cấp trước văn phòng đồng nghiệp Mỹ, Phương bước vào.

Hoạt động ở đây kém vẻ nhộn nhịp hơn thường lệ, ai cũng nón sắt trên đầu, áo giáp trên người, súng ống lỉnh kỉnh dựa ở tường, ở các góc phòng.

Ba người cao cấp của đơn vị trong đó có Tom, Thomas, đang bàn tán chỉ trỏ gì đó ở chiếc bản đồ dán trên một tấm bảng lớn ngay trước mặt họ. Khi Phương bước vào lên tiếng chào tất cả đều quay lại nhìn, người thì cười nhẹ thay cho tiếng chào, kẻ thì chào lại Phương. Tom cũng lên tiếng chào Phương rồi hỏi :

- Sao không ở dưới lều mà mày lên đây làm gì ?

- Tôi có một việc nhờ ông, nhờ các ông giúp tôi!.

Chưa biết giúp cái gì nhưng Tom nói :

- OK, No problem !.- đồng ý, không có vần đề gì ! .

Khi nghe Tom nói, Phương nghĩ ngay là anh sẽ có thể đạt được điều anh hy vọng.

Bước lại gần Tom, người mà anh quen nhất, thân nhất trong số nhân viên của đơn vị Mỹ này, Phương nói vừa đủ nghe điều anh yêu cầu.

Nghe xong, Tom gật gù, suy nghĩ một chút rồi quay qua nói với 2 người đồng đội trong đó có William vị chỉ huy của đơn vị. Cả ba nói nho nhỏ với nhau một chập mà Phương tưởng như rất lâu, sau cùng chính đại úy William tiến lại gần Phương nghiêm chỉnh lên tiếng:

- OK, có thể được nhưng anh sẽ đi với tướng Ware (****) chỉ huy Sư đoàn vì ông sắp sửa bay về Tân Sơn Nhất. Bây giờ là 9 giờ 30, anh có đúng 1 tiếng đồng hồ để sửa soạn. Anh phải có mặt ở đây để sẵn sàng đi cùng tôi ra trực thăng.

William vừa dứt lời là Phương đứng thật thẳng người, giập 2 gót giầy bốt-đờ-sô dưới chân, giơ tay lên vành mũ sắt vừa nghiêm chỉnh chào vừa nói:

– Thank you, thank you very much. Sir! - cảm ơn, cảm ơn ông rất nhiều !.

William cười: - You 're welcome !.Không có gì !.

Phương cũng không quên cảm ơn Tom và những người đang có mặt trong văn phòng, trước khi anh vội vã đi chân như không chấm đất, về lại lều để căn dặn, trấn an thằng Bòng rồi quay lại văn phòng biệt đội Mỹ chờ được lên trực thăng.


♣ ♣ ♣

Trưa hôm đó, Phương đặt chân xuống phi trường Tân-Sơn-Nhất bằng chuyến trực thăng của tướng Ware (***) cùng 5 người sĩ quan khác trong sư đoàn 1.

Từ cổng phi trường qua Võ-Di-Nguy dọc theo đường rầy xe lửa, lên ga Xóm Gà rồi về tới nhà ở quận Gò-Vấp, Phương gặp những toán lính trong binh phục tác chiến súng ống đầy mình chận gác tại các ngã ba, ngã tư đường anh cũng trông thấy một vài dấu tích giao tranh nhưng không quan trọng như những lo nghĩ suy tưởng mà anh có trong đầu khi nghe tin tức qua chiếc transistor của thằng Bòng.

Khu phố, khu xóm, nhà cửa, gia đình Phương vẫn bình yên tuy nhịp sống trầm lắng hơn thường lệ. Đẩy cửa vào sân nhà. Trên nền gạch, những xác pháo đỏ còn đầy. Trong một góc, chậu mai hoa rực rỡ , hai chậu cúc và hai chậu thược dược thi nhau vàng đỏ nở rộ cạnh bên. Mùi hương trầm từ trong nhà nhẹ nhàng thoảng ra.

Bước vào trong, Phương thấy, hệt như những Tết mấy năm trước, trên bàn thờ tổ tiên vẫn nhang khói, đèn rực đỏ, bánh mứt, ngũ qủa đủ lệ bộ .
     Phương nghe tiếng mẹ anh nói chuyện ở sân sau, xen lẫn tiếng cười trong trẻo của các cô các em gái cùng tiếng lách cách của dao thớt: mọi người đang chuẩn bị lễ mồng ba tết.
    Với tay rút ba nén hương từ chiếc bình sứ đựng nhang. Anh châm lửa, chắp tay lạy tổ tiên rồi cắm vào lư hương. Những làn khói trắng cuộn tròn, nhẹ nhàng bay. Mùi hương thơm ngát.

Phương vừa tìm lại được một sự bình an nào đó mà anh tưởng đã mất.

Mẹ anh và các em của anh chẳng có vẻ quan tâm gì tới chiến sự đã, đang diễn ra . Mẹ nói rằng cha anh cũng vừa về nhà sáng sớm nay. Vài chi cảnh sát cũng bị đối phương tới tấn công nhưng họ đã không thành công. Chiều nay cha anh lại về cùng gia đình để làm lễ hoá vàng.

Chẳng cần phải tháo đôi bốt-đờ-sô, thay quần thay áo, Phương ngồi phịch trên chiếc nệm ngủ của anh ở nhà, nằm ngửa người nhìn lên trần, anh tự thấy hối hận :

- Biết như thế này thì mình không bỏ Bòng ở lại một mình trên Lai-Khê. Thật tội nghiệp ! .

Phương loay hoay nghĩ tới Thy. Thy với anh sẽ phải ăn làm sao, nói làm sao với xếp đây ?

Tết với chả Nhất !.

Troyes, ngày 19.01.2021 – 00.20 phút
(*) Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung nơi đào tạo các binh sĩ tình nguyện và tân binh quân dịch.
(**) Bản nhạc Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương
(***) Chỉ trong 2 ngày kể từ đêm 31.1 đến 3.2.68 Lai-Khê đã nhận được bốn mươi hai đợt tấn công bằng hỏa lực, trong đó có 141 đợt bắn rocket 122mm.
(****) Tướng Keith Ware cùng với 7 người sĩ quan khác đã bị bỏ mình vì rơi trực thăng tại chiến trường Lộc Ninh ngày 13 tháng 9 năm 1968.


CON MA VÚ NGẮN, CON MA VÚ DÀI

 


CON MA VÚ NGẮN,
CON MA VÚ DÀI


T ừ trong căn cứ của bộ tư lệnh sư đoàn 1 Hoa-Kỳ ra Dĩ-An cách nhau không đầy nửa giờ tiếng nhưng trước đây ít khi được những người trong biệt đội sử dụng ngoại trừ Sinh mỗi lần về thăm cha mẹ ở trại định cư Đông-Hòa hoặc Ngọc mỗi lần về lò gạch của gia đình trên Tân-Vạn.

Sau khi có một vòng đai xa lộ, do công binh Mỹ thiết lập để thuận tiện trong việc điều động quân sự từ Biên-Hoà lên Phú-Lợi Bình-Dương Lai Khê, cùng với với sự hỗ trợ của một đơn vị thuộc Sư Đoàn Bạch Mã Đại-Hàn thì sự an toàn lưu thông từ căn cứ ra Dĩ An mới được bảo đảm, từ đó Phương và các đồng đội sử dụng ưu tiên con đường này để tới lui Sài-Gòn . Con đường bên mé Thủ-Đức vẫn chỉ luôn là một con đường đất đỏ nắng thì bụi mịt mù mưa thì sình lầy nhèm nhẹp như những ngày đầu tiên Phương đi theo đại úy Mai tới làm việc tại biệt đội.

Mỗi sáng, mở đầu cho một ngày mới như thói quen cần phải có. Sau khi đã ăn sáng no nê từ mess-hall (nhà ăn) về, trên chiếc zíp ngồi ôm sát nhau do anh Lam lái, Trâm ngồi cạnh anh tài xế, phía băng sau là Sinh, Liêm, Chúng, Tòng còn những người khác chia ra từng cặp , bằng xe honda, vespas, lambretta, nối đuôi nhau phóng ra chợ Dĩ-An ... uống cà phê. Phương bỏ xe trong căn cứ ngồi sau lưng Mỹ trên một chiếc kawasaki. Chiểu một mình lả lướt trên một lambretta. Lâm,"chú tư cầu" Phú, ngồi phía sau lưng Sơn "chuột" trên chiếc suzuki mà anh chăm chỉ lau chùi bóng láng tới mức gần mòn nước sơn .

Từ hơn 7 giờ sáng, đoàn xe, gần hết quân số của biệt đội dưới quyền của Lam, chỉ huy trưởng "phái đoàn uống cà phê sáng", đã có mặt tại một quán nước .


♣ ♣

Quán nước nằm ngay đầu nhà lồng chợ, mặt trước nhìn thẳng ra ga xe lửa con lộ chính tráng nhựa chạy ngang. Quán do ông Tư, người ốm nhom, làm chủ, tiếp giúp ông là hai chị em cô Sương, các cô con gái của ông. Nhan sắc cô chị, khuôn mặt một cặp kính cận, thuộc loại trung bình, thân thể cô cũng không có gì nổi bật. Còn cô em thì sáng sủa hơn nhưng mới sắp sửa đi vào cái tuổi "vị thành niên", nên không phải là đối tượng của các anh lính trẻ mà người già nhất mới hơn 30 còn trẻ nhất vừa chớm 21,22. Tuy quán chỉ có 4,5 bàn nhưng thật thoáng không một bức vách nào che chắn để thoải mái ngồi quan sát được cả bốn phía.

Mé trái quán, bên kia đường có một dãy nhà phố. Đầu dãy phố gần ngã ba là một cửa tiệm bán thuốc Bắc với bốn cô gái làm thư ký gì đó trong đơn vị quân sự Đại Hàn trên quận. Nhà kế bên có hai nữ sinh đó là chưa tính tới những cô gái khác trong khu phố sau bến xe đò Sài-Gòn Dĩ-An nằm dưới cuối nhà lồng chợ hoặc những nữ sinh tóc dài, nõn nà trong những chiếc áo dài trắng, những đôi mắt "chim non" đen nhánh thẹn thùng thấp thoáng dưới vành nón lá.

Muốn lên được trường trung học nơi các cô theo học, hầu như tất cả các cô đều bắt buộc phải đi trên con lộ tráng nhựa chạy trước nhà ga lẽ tất nhiên phải đi ngang quán nước của ông Tư dưới chục đôi mắt của các anh lính trẻ.

Những cái nhìn, những nụ cười đong đưa, những lời bàn tán chấm điểm, khen chê ... dù chỉ nghe được ít nhiều hay không nghe được cũng đủ làm bước chân của các cô hơi nặng nề, khó khăn, chập choạng hơn. Bởi lẽ đó mà khi buộc lòng ngang đây, các cô thường đi tập thể, đi chung với nhau, tựa vào nhau, để có sức mạnh mà tiến bước.

Theo giờ giấc đi làm hoặc đi học của các cô, cứ đúng 8 giờ thiếu 20 là đám lính trẻ này không ai bảo ai đều tự động đứng lên, người thì ra xe nổ máy chuẩn bị trong lúc chờ đợi, kẻ thì chuẩn bị nhẩy lên chiếc zíp, người khác trả tiền cà-phê khỏi cần lấy tiền thối lại ... Mé dãy phố bên kia đường, từ tiệm thuốc Bắc bốn "người đẹp đại-hàn", các cô làm việc với Đại-Hàn nên được mọi người gọi như vậy, vừa đẩy hai chiếc xe honda ra đạp nổ máy, sau đó cứ hai cô một xe rồ ga phóng ra đường. Bên này, mé quán cà phê, những anh lính trẻ , xe đã nổ máy, cũng tự tách ra làm ba phe đi về hai hướng rồi dọt .

Một phe theo lộ trình từ chợ qua cổng gác đường rầy xe lửa hướng lên ngang một vườn mít thật lớn lên tới cổng toà hành chánh quận. Xe suzuki của Sơn và Phú vượt nhanh qua hai xe honda của bốn cô "người đẹp đại-hàn" rồi chạy chậm lại một chút đề xe các cô vượt qua. "Bốn người đẹp đại-hàn" quyến rũ, hấp dẫn trong những bộ áo dài màu đỏ, màu xanh, màu vàng... tùy theo ngày, tung theo gió để lộ những cặp ngực rung rung, những chiếc đùi tròn trịa chắc nịch đang muốn bung ra khỏi lớp vải trắng của những chiếc quần dài các cô mặc.

Cứ như thế, vượt tới, vượt lui... cho tới trước cổng vào cơ sở hành chánh quận Dĩ-An.

Phe thứ hai, Chiểu trên xe lambretta của anh thả tà tà theo bước đi của hai cô nữ sinh.

Cô chị là Xuân, người mà Chiểu muốn tán tỉnh, cô em là Thúy. Nhà hai cô ở gần kế bên cửa tiệm thuốc Bắc. Cô Thúy được mọi người trong phái đoàn uống cà phê đặt biệt danh là "con ma vú dài". Hai chị em bẽn lẽn che mặt dưới vành nón trà trộn đi trong đám nữ sinh lên trường.

Phe thứ ba, thuộc thành phần "trung lập", trên chiếc zíp do Lam điều khiển, dù tháp tùng theo phe rượt đuổi bốn "người đẹp đại-hàn" nhưng sau đó, bỏ mặc Sơn, Phú, rẽ tay lái ở ngã ba vườn mít ra xa lộ vào căn cứ.

Trâm và Tòng là thầy giáo đã có vợ, Sinh như một tu sĩ thiên chúa giáo, Chúng mặc dù độc thân nhưng tự biết là không đủ khả năng và Lam cũng không tham dự bởi lẽ anh cũng đang có một cô gái trẻ thương yêu anh, chờ đợi anh ở Lai-Khê. Phương và Mỹ cũng chỉ chạy xe theo Sơn và Phú nhưng không tham gia vào trò chơi chạy nhanh chạy chậm sau "bốn người đẹp đại-hàn".

Cuộc đuổi bắt, đá lông nheo, cười cợt, lời qua mấy tiếng lại loáng thoáng trong gió theo vận tốc xe cứ như thế cù cưa kéo dài như một trò chơi . Màn kịch hàng ngày đó chỉ tạm thưa đi khi một số diễn viên chính phải biệt phái lên Lai-Khê làm việc .

Hiển nhiên sau mỗi lần từ Lai-Khê về, ngay sáng ngày hôm sau Phương tháp tùng đồng đội ra Dĩ-An uống cà phê.


♣ ♣ ♣

Ăn cơm tối xong, Chiểu tới cạnh giường rủ rỉ :

- Ông giúp tôi một chuyện .

- Chuyện gì mà có vẻ quan trọng dữ vậy?

Chiểu còn lưỡng lự chưa biết phải bắt đầu như thế nào thì Mỹ ở bên cạnh lên tiếng :

- Tao biết chuyện gì rồi...nó sẽ nhờ vả mày đi "cua" "con ma vú dài" đó!.

Nghe tiếng Mỹ nói, mấy anh em trong nhà đều cười sặc sụa, không khí trở nên rộn rã. Sơn vừa khoái chí cười vừa nói hụych toẹt:

- Ở nhà, thằng Chiểu nhờ vả mọi người mà không người nào chịu, bây giờ nó nhờ ông...Giúp nó đi, tội nghiệp nó.

- Ờ, ờ, đúng, thằng Sơn nói có lý. Ở đây ai cũng có vợ hay có bồ, chỉ một mình ông là chẳng có ai. Mấy anh em khác cùng chêm vô.

Được trớn, Chiểu cười bẽn lẽn nói:

- Lúc ông ở Lai-Khê, tôi đã "cua" được con Xuân....

- Hay quá xá rồi... Phương trả lời.

- Khổ một nỗi là con Xuân với con Thúy cứ dính nhau như hai con sam, Chiểu nói tiếp:

- Không có cách gì làm hai chị em nó tách ra được để tôi có thể nói chuyện riêng tư với Xuân . Nếu ông cũng "cua" con Thúy, em của Xuân thì ...

Tới đây thì Phương đã hiểu được ý của Chiểu là muốn anh "cua" cái "con ma vú dài" để kéo rời được hai chị em cô ta ra và Chiểu sẽ được tâm tình riêng với Xuân.

- "Cua", tôi phải "cua" cái "con ma vú dài" hay sao?.

- Ừ!. Tôi biết là ông không để ý gì tới con nhỏ này nhưng ông ráng giúp tôi ...

- Ráng việc gì thì còn được nhưng ráng chuyện này thì khó qúa Chiểu ơi!.

- Thì ông làm bộ tán tỉnh nó rồi chở nó đi chỗ khác ... Chiểu vẫn nài nỉ.

Phương không làm theo lời khẩn cầu của Chiểu vì chuyện "chế" Hai trên Lai-Khê vẫn còn chút ám ảnh trong tâm trí anh. Bồ với bịch chán thấy mồ, mà "cua" ai thì còn được đi, "cua" cái "con ma vú dài" Phương thấy kỳ kỳ.

Mấy bữa sau đó, ngồi trong quán nước nhấp ly cà phê, khi thấy hai chị em Xuân, Thúy vừa bước ra khỏi nhà là mọi người lại:

- Kìa kìa "con ma vú dài" kìa Phương. Hấp dẫn không? Nhìn một chút đi !..

- Thôi ra tay giúp thằng Chiểu một phen Phương ơi. Tình chiến hữu mà !. Lam, người ít chịu phát biểu ý kiến cũng cười cười xúi giục .

Phương không trả lời mà chỉ quan sát cái "con ma vú dài".

Thực sự ra thì Thúy cũng không phải là xấu xí gì so với cô chị, nghĩa là cũng "mỗi người một vẻ" chỉ có vài điểm khác biệt chị thì cao còn em thì thấp, chị thì chậm rãi trong những bước chân còn em thì thoăn thoắt, tròn trịa, mũm mĩm hơn.

Cái biệt danh bốn chữ "con ma vú dài" là do chính anh Lam đặt ra cho Thúy từ lúc anh đọc truyện Con Ma Vú Dài trong tờ báo Trắng Đen. Kể từ đó không còn ai cần nhớ tới tên thiệt của Thúy nữa.

Thật sự ra thì đôi vú của Thúy cũng không dài chút nào mà đôi vú chỉ tròn to, chỉ vươn cao hẳn lên như muốn làm bung những hàng nút trên ngực áo dài đang mặc trên mình, nhìn lâu lâu Phương cũng thấy nửa thú vị nửa hấp dẫn.

Mọi người vẫn thúc đẩy, cuối cùng thì Phương ngả lòng giúp Chiểu, trùng hợp vào thời điểm chấm dứt của phe đuổi bắt ba cô bên tiệm thuốc bắc bằng một kết qủa mỹ mãn khi "chú tư cầu" thiết lập được sự hẹn hò riêng tư vào những ngày cuối tuần với một trong ba cô, cô này là người bên Lái-Thiêu sang ở nhờ nhà hai cô bạn để đi làm trong đơn vị Đại-Hàn.

Thế là, mỗi sáng, kẻ trước người sau hai chị em cô Xuân thả bộ đi học , chị lớp đệ nhị em lớp đệ tam, được hai chàng quân nhân trẻ tuổi bảnh bao tháp tùng bằng hai chiếc lambretta từ cuối nhà ga cho tới trước cổng trường trung học.

Một tháng sau, Xuân lên xe Chiểu chở. Thúy "con ma vú dài" nhẩy tót lên ghế sau xe Phương rồi ... đường ai nấy đi. Hai nữ sinh áo dài trắng "cúp cua". Hai nhân viên nghỉ không làm việc buổi sáng với sự gật đầu chấp thuận bằng miệng của Lam, chỉ huy trưởng "phái đoàn uống cà phê sáng", người luôn sẵn sàng chia xẻ với anh em đặc biệt về tình cảm hơn nữa cũng chính Lam là người xúi biểu Phương .

Không biết Chiểu chở Xuân đi đâu, Phương chỉ nhận thấy anh ta vặn ga mạnh, xe lambretta phun khói rồi biến mất sau đám bụi đỏ.

Phương, mấy lần đầu chỉ chở Thúy chạy quang quẩn một vòng Dĩ-An ra quốc lộ, đánh xuống suối Lồ Ồ, quay trở lại, đi về Thủ Đức chớ đừng đi ngược lên mé Biên-Hòa – Em sợ sẽ gặp dượng Hai hay là chú Tám, theo lời Thúy – Dượng Hai có một chiếc xe vận tải chở đá còn chú Tám làm tài xế xe chở đá khác - rồi quay trở lại về gần trường vào giờ tan học, Phương thả Thúy xuống sau đó vào căn cứ để ăn trưa.

Vài lần sau Phương chở Thúy qua mé núi Bửu-Long, ngồi vừa ngắm cảnh nhìn sông nước vừa nói chuyện cho đỡ nắng, đỡ mệt hơn là cứ phải chạy xe vòng vòng.

Suốt thời gian đó với Thúy, Phương chỉ nói một vài chuyện nho nhỏ về đời tư của anh, về gia đình anh. Anh không biết là Thúy, ngồi sau lưng anh,Thúy có nghe được những gì anh nói hay không mà chỉ nghe tiếng ngoan ngoãn trả lời: Dạ, dạ, dạ ...!.

Qua những lời của Thúy, Phương biết được Thúy là em bạn dì với Xuân, má của Thúy đã mất từ khi Thuý mới được 13,14 tuổi để lại 5 đứa con cho ba Thúy, một thầy giáo già đã về hưu có hai đời vợ, rốt cuộc vẫn chỉ có một mình với bầy con nhỏ dại, mà đứa lớn nhất là Thúy còn đi học. Ông giáo hưu già chán đời. Chuyện săn sóc, nuôi dạy 5 đứa con nhỏ ông phó thác tất cả cho bà mẹ vợ cũng đã cao tuổi, chị vợ và hai người em vợ. Chính vì thế nên Thúy phải rời vườn mít xuống chợ ở chung với Xuân, chị họ để đi học.

Thúy cũng chỉ cho Phương biết vườn mít nhà Thúy, cái vườn nằm ngay góc ngã quẹo ra xa lộ vào căn cứ và lên Bình-Dương. Vì tên của ông thầy giáo ba Thúy là Thông nên người ta đặt cho tên vườn mít là vườn mít ông thầy giáo Thông. Vườn rộng hơn nửa mẫu rào dậu chung quanh bằng kẽm gai với những hàng mít trồng ngay hàng thẳng lối sung trái. Giữa vườn là một ngôi nhà ngói nhưng tiêu điều muốn sập.

- Má em chuẩn bị cất nhà thì má em chết.

Nghe những lời tâm sự của Thúy, Phương rụng rời tay chân. Anh vô cùng xúc động và cảm thương cho hoàn cảnh của Thúy. Anh cũng không nên tiến tới xa hơn, cũng không nên tìm một cơ hội nào để ôm ấp lợi dụng Thúy. Việc anh làm chỉ để tách rời được hai chị em Thúy giúp Chiểu mà thôi.

Phương chán ngấy cái vai trò gượng ép "giả bộ".

Anh thấy cần phải dừng ngay trò chơi nguy hiểm này lại, không nên tiếp tục màn đùa dỡn tình cảm được nữa !. ./.

Troyes 05.02.2021- 21.38.




CHIỀU CHẬM ĐƯA CHÂN NGÀY HỒ THỦY

          CHIỀU CHẬM ĐƯA CHÂN NGÀY HỒ THỦY T   rong làng mọi người đều trầm trồ, tấm tắc khen: - Chà chà!... đám cưới của ch...