jeudi 22 février 2024

CHIỀU CHẬM ĐƯA CHÂN NGÀY HỒ THỦY

         

CHIỀU CHẬM ĐƯA CHÂN NGÀY




T rong làng mọi người đều trầm trồ, tấm tắc khen:

- Chà chà!... đám cưới của chú Tiến với cô Vân thiệt là "ngon" hết ý, to chi mà to rứa, khách đông quá chừng, ca sĩ rước từ Huế tới hát nghe hay thiệt.

Một đám cưới nói theo kiểu bây giờ gọi là "hoành tráng". Nhà ông bà Ngại - ba má của cô Vân - lấy làm hỡi lòng hỡi dạ vô cùng, Ở trong cái làng nhỏ xíu này; từ trước tới nay chưa nhà nào gả con gái mà có đước một cái đám cưới rình rang đến như vậy. Cũng nhờ con rễ của ông bà là anh Tiến đi hợp tác lao động bên Hàn quốc mấy năm , chắc chiu tiện tặn, vừa gởi tiền về cho ba má cất nhà, vừa dành dụm để cưới vợ... nghĩ thiệt là có phước cho con gái của ông bà.

Cô ca sĩ mặc cái váy ngắn củn cỡn, dù là cuối đông, sắp sang xuân nhưng tiết trời vẫn còn lạnh, ấy thế mà cô ta mặc áo hai dây, hở lưng hở ngực tùm lum, cô đang nhảy nhót với ca khúc "Anh cho em mùa Xuân", ban nhạc thì mạnh ai nấy đàn, âm thanh mỡ lớn hết cở, từ đầu làng trên đến cuối xóm dưới đều nghe. Khách được mời hầu hết là người trong làng, mấy chục năm sống bên nhau nơi cái làng chài nghèo khổ này, ai cũng là người quen thân.

Trên sân khấu cô ca sĩ vừa hát vưa nhún nhảy, nhạc công người thì đàn, người thì đánh trống, tất cả cùng lắc lư người theo cô ca sĩ. Bên dưới khách ăn tiệc nói cười hết cở, những cánh tay cầm ly bia lên cụng vào nhau, miệng hô to khi cô dâu chú rễ tới bàn chào:

- Dô... dô... "chăm phần chăm" cái coi... chúc cộ dâu chú rễ "chăm" năm hạnh phúc... đầu bạc răng... rụng... dô... dô...

Đương nhiên là chú rể cũng phải cạn ly. những khuôn mặt đỏ gay, những cái miệng há to nhai nhồm nhoàm, tất cả toát ra một vẻ rất là "phàm phu tục tử". Vân hầu như lết từng bước theo Tiến, ngoài miệng thì cười nhưng nụ cười của cô cứng ngắt, khô khan như một khúc gỗ mục, còn trong lòng cô thì héo úa như bông hoa sắp tàn. Hình như có tiếng còi tàu từ sân ga vọng lại? "Hôm nay ngày cười em, mừng vui họ hàng hai bên..." Cũng hôm nay anh "trở về mái nhà xưa". Vân muốn khóc nhưng không dám, đôi mắt cô rưng rưng, một vài đứa bạn nói đùa:

- Coi con Vân tề, hắn sướng quá muốn chảy nước mắt tề...

Một tràng cười lớn nối đuôi nhau, má cô vui vẻ nói:

- Con gái lấy chồng thường thì phải khóc tí chút mới đúng điệu chớ.

Tai Vân nghe có tiếng còi tàu vang lên từng hồi, rồi những tiếng thở của con tàu... "xình... xịch... xình... xịch... " nó đang chạy chậm lại trên đường ray. Anh ngồi ở đâu trên con tàu ấy? bên cửa sổ hay phía trong? mà có thật là đang có một con tàu chạy qua? hay những tiếng Vân nghe chỉ là sự tưởng tượng vì nhớ nhưng và khao khát? Đám cưới của Vân là có thật, còn anh có thật sự ngồi trên con tàu về Nam hay không thì cô không biết.

Tiến nhìn Vân, anh có vẻ khó chịu khi thấy nét mặt vợ bỗng dưng thay đổi, ánh mắt của cô vừa xa vắng, vừa đờ đẩn như người mất hồn. Hai người phải đi chào từng bàn tiệc, mỗi bàn Tiến phải cụng ly và uống cạn, mặt anh đỏ gay, hơi thở đầy mùi bia rượu. Mội khi anh ghé miệng sát vào đầu Vân, cô bỗng lạnh người và nhớ quá cái mùi hương nồng nàn ngọt ngào làm cho cô say đắm... mới hôm nào còn đó mà nay sao xa quá là xa. Cô lại nghe có tiếng còi xe lửa hú một hồi dài, nhưng sân ga ở mãi tít đằng xa, có bao giờ tiếng còi xe lửa vang tới tận nơi đang diễn ra đàm cưới của Vân, với tất cả sự ồn ào náo nhiệt kia chứ? Đây chỉ là ảo giác mà thôi, thứ ảo giác có từ nỗi nhớ thiết tha và khao khát của cô gởi đến một người.

Một ngày qua đi, tàn tích của cái đám cưới rình rang là một đống bầy hầy thừa mứa vương vãi khắp nơi trong sân nhà. Nỗi lòng của Vân cũng không khác gì mấy, với đủ thứ cảm giác rối bời, ngổn ngang. Chiều lắm rồi, nắng nhạt nhòa không còn chút màu sắc nào, hoàng hôn làm cho ngày lịm dần vào đêm tối. Tự nhiên Vân rùng mình sợ hãi, một nỗi sợ không tên gọi, Vân không hiểu tại sao cô lại có thứ cảm giác như vậy. Bây giờ thật sự Vân đã là vợ của Tiến, ván đã đóng thuyện rồi, con chim đã bị nhốt vào lồng, nay thì không còn mong chi một chút thư thái tự do nữa. Tâm trạng của Vân nó lộn xộn, nó lung tung và cuối cùng là nỗi buồn vô cùng lớn choán hết tâm hồn cô. Phòng ngũ của hai vợ chồng Vân nằm bên cạnh phòng ba má chồng. Vân ngồi trên chiếc giường mới với mền gối mới, nói chung mọi thứ đều mới, tấm ra trải nệm đầy màu sắc lòe loẹt in đủ thứ hoa xanh xanh đỏ đỏ, hai cái gối nằm in hình hai con chim phượng, bẹn dưới là hai chử "Hạnh phúc". Vân ngồi ghé bên mép giường, căn phòng đầy đồ đạt còn lòng Vân thì trống rỗng, xa lạ. Hình như có tiếng còi tàu đang hú dài? "phải chăng anh đang gọi em?"

Đêm tân hôn Tiến hỏi vợ, hơi thở của anh vẫn còn nồng mùi bia rượu, mặt anh đỏ gay:

- Làm như là em không vui? em có vẻ miễn cưỡng? tại răng rứa Vân?

Vân mệt mỏi nằm sát vào trong, cô vùi mặt mình dấu vào trong gối:

- Em có làm răng mô. Chắc tại lạ nhà.

- Nhà chồng chớ nhà ai mà lạ, hồi nhỏ em cũng thường qua nhà này chơi với anh mà. Anh nghe nhiều người nói là khi anh còn hợp tác lao động, mỗi chúa nhật em đi ra Huế, chiều mới về... phải rứa không?

Vân hỏi lại, cố ý kéo dài thời gian để tìm câu trả lời:

- Anh nghe ai nói rứa?

Tiến cau mặt:

- Úi chá, nhiều người nói, em gái anh cũng nói.

Vân lo lắng; điệu này thì... chị dâu em chồng khó mà vui với nhau. Cô nói dối:

- Chúa Nhật rảnh ở nhà buồn nên em ra Huế phụ bán hàng với cô bạn.

Tiến gằn giọng:

- Thiệt không? Răng mà khó tin quá.

Vân trở mình xoay mặt vô trong vách:

- Tin hay không tùy anh.

Tết đến với nhiều hương sắc của đất trời, nhà nhà rộn ràng chuẩn bị đón tết, người lớn cũng như trẻ nhỏ ai ai cũng vui tươi hơn hớn, Vân lấy chồng được một tháng, một tháng với nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui, khi mà Tiến luôn rình rập, đay nghiến Vân. Vân chưa được nếm mùi vị của hạnh phúc mặc dù cô cố gắng quên đi một người để sống trọn ven cho một người là chồng của cô.

Tháng giêng là tháng ăn chơi. Từ ngày cưới vợ đến nay Tiến chưa có một công việc gì ổn định, nói đúng hơn là anh chưa nghĩ ra được một công việc gì để làm, ngày nào anh cũng "bận rộn" với đám bạn trong làng, mà dân làng chài nỗi tiếng về nhậu nhẹt, uống rượu thì lúc nào cũng là "không say không về", nên mỗi khi say để về được đến nhà thì anh ngã bịch xuống, nằm vắt vẻo nữa trên nữa dưới giường, Vân khổ sở đến mệt nhòi để kéo tấm thân nặng chịch của chồng lên giường, có nhiều khi cô phải lấy thau hứng những đồ phế thải từ trong bụng anh tuôn ra; nó hôi hám dơ bẫn làm cho cô ghê rợn.

Bây giờ biển là người bạn thân thiết của Vân, mỗi buổi chiều sau khi lo dọn sẳn cơm nước lên bàn cho gia đình chồng xong, Vân đi ra biển, cô ngồi trên ghềnh đá sát mép nước nhìn những ngọn sóng từ ngoài khơi xô đẩy nhau chạy vào bờ, sóng đánh vào ghềnh đá nơi cô ngồi, bọt nước trắng xóa tung lên từng hạt li ti, có khi sóng vổ mạnh làm cô bị ướt tóc, ướt mặt, ướt cả áo quần, nó cho cô những cảm giác thật là dễ chịu. Ngồi nơi vắng vẽ này cô tự do buông lõng tâm hồn mình, để nhớ và nghĩ về một người, để nghe từ đâu đây, hay từ sự cảm nhận trong đầu mình là tiếng còi tàu hú lên từng hồi, tiếng thở "xình xịch... xình xịch... của con tàu, và rồi cái đầu nhỏ xinh của cô, mái tóc mượt mà của cô đang tựa vào một bờ vai êm ái với mưi thơm đàn ông đầy lối cuốn, hấp dẫn. Chiều nào không ra đây ngồi, Vân có cảm giác bồn chồn, nôn nao, thiếu thiếu một điều gì đó. Cô thường ngồi trên gềnh đá này cho đến khi hoàng hôn buông xuống, biễn không còn là màu xanh biếc nữa, mà đổi sang màu tím thẩm, lúc đó cô mới rời khỏi ghềnh đá để về nhà.

Mọi người trong nhà Tiến rất khó chịu về điều này, nhất là má và cô em gái của Tiến, dù Vân chỉ ra biễn một mình, ngồi trên ghềnh đá cũng một mình, nhưng sao trông cô khó hiểu và kỳ cục quá. Lời to nhỏ xì xào to nhỏ của hai người cố ý cho lọt vô lỗ tai của Tiên. Chiều nay cũng như những buổi chiều khác, sau khi làm xong công việc nhà chồng, Vân ra biễn... nhưng chiều nay trên ghềnh đá đã có người ngồi, Vân giật mình, sau đó thì ngạc nhiên. Tiến quay lại nhìn vợ, anh cười khẩy, hỏi móc:

- Râng? tới giờ thì em ra đây ngồi để nhớ ai đó chớ chi?

Vân ngồi xuống bãi cát, tự nhiên cô tủi thân ứa nước mắt khi trả lời chồng:

- Ngày mô anh cũng đi nhậu tới tối thui tối mịt mới về nhà, có ngó ngàng chi tới em? mỗi buổi chiều em ra đây ngồi hít thở hơi gió biễn cho khỏe người, nhớ nhớ chi ai mà anh nói lạ rứa?

Tiến trề môi:

- Thôi đi em ơi, tui biết quá mà, cái chuyện mỗi ngày chúa nhật em đi ra Huế... tui còn chưa tra cứu, bây chừ mỗi buổi chiều em ra đây ngồi... không để nhớ ai thì còn để mần chi?

Vân không trả lời, cô nuốt nước miềng xuống bụng như nuốt nỗi nghẹn ngào đang dâng trào. Hình như Tiến vừa đi uống rượu ở đâu về thì phải? mặt anh đỏ gay theo màu đỏ của ráng chiều, mắt anh tóe ra sự dữ dội qua cái nhìn ném về phía Vân, Vân rùng mình sợ hãi, nếu chồng cô điên tiết lên, túm cổ cô kéo ra biễn, dìm cô xuống nước thì coi như xong một kiếp người. Nhưng không; Tiến chỉ nhìn cô tóe lửa, sau đó thì cái nhìn dịu lại, anh ngó mông ra biễn, thở dài:

- Có lẽ anh phải đi Hàn Quốc vài năm nữa Vân à.

Vân giật mình trố mắt nhìn chồng, cô hoãng hốt:

- Răng mà anh phải đi xa ? anh mới về, anh mới cưới em... không lẽ em phải sống xa anh nữa răng?

Tiến nói với giọng buồn buồn:

- Có chi mà em lo, anh đi một lần nữa, kiếm thêm một số tiền để gầy dựng gia đình mình cho vững chắc. Số tiền anh lao động mấy năm vừa qua... phần thì đưa cho ba mạ xây nhà, phần thì lo đám cưới của tụi mình, nay thì chỉ còn một ít... mai kia một nọ có con có cái, để cho con cái mình sống thiếu thốn thì tội cho con mình lắm lắm...

Vân đến ghềnh đá, leo lên ngồi bên cạnh chồng:

- Mình ở xứ biễn, biễn cho mình tài sản, chỉ cần mình lo siêng năng đi biễn thì cũng sống đươc, như bao nhiêu người dân làng chài của mình đây...

Tiến lắc đầu:

- Anh sợ đi biễn lắm Vân à, anh cũng không thích nhìn em ngày ngày phải ngồi vá lưới... chờ chồng đi biễn về để gở con tôm con cá ra chợ bán, anh không muốn thấy em phải khổ cực, người ta không có điều kiện như anh thì đàng phải đi biễn, còn anh thì tiếng Hàn Quốc cũng khá nên chi cũng thuận tiện.

Những lời Tiến nói làm cho lòng Vân xót xa vì cảm động, nó như một luồng gió mới thổi vào hồn Vân làm bay đi những điều viễn vông và nặng nề đang chất chứa trong lòng cô, cô nhẹ nhàng nghiêng đầu tựa vào vai chồng, sao bờ vai của chồng cô lại rắn chăc mà êm ái đến thế? Và lạ lùng hơn nữa là mùi da thịt cùa anh, nó nồng nàn, cay cay, ngai ngái đến độ quyến rũ, sao mãi đến bây giờ cô mới nhận ra? Vân dụi mặt vào vai chồng, hít thật sâu mùi muối mặn của anh, Tiến quàng tay ra sau lưng Vân, ôm lấy bờ vai nhỏ bé của cô. Anh nói:

- Khi anh đi rồi, mỗi chúa nhật em đừng ra Huế nữa. Anh muốn là người duy nhất che chở cho em suốt đời.

Vân gật đầu, Tiến hỏi:

- Em có nhớ ghềnh đá này không? hồi tụi mình còn nhỏ, đứa mô cũng có cặp, hai đứa mình là một cặp, chiều chiều cả bọn kéo nhau lên ngồi trên ghềnh đá ni... vui thiệt là vui, rứa mà khi lấy nhau rồi. ít có cặp mô ra đây ngồi với nhau, chiều ni có hai vợ chồng mình...

Vân giật mình, chợt nhớ ra từ trong tiềm thức của cô, ghềnh đá này là một kỷ niệm của tuổi thơ cho đến lớn chứ không phải là tiếng còi xe lửa hú vang... Vân muốn khóc vì xúc động, bỗng dưng cô cảm thấy tình yêu cô đã có với Tiến từ thời thơ ấu, mà cô ngỡ đã quên nay đang sống lại.

Ráng chiều đỏ rực sau lưng hai người, mặt trời đang khuát dần sau núi, Vân mong chiều nay cứ mãi là chiều, đừng tối... nhưng nếu không tối trời thì làm sao hai người được ngắm trăng? vì hôm nay là ngày mười lăm âm lịch rồi. Duy có một điều chắc chắn là Vân sẽ không muốn nghe tiếng còi tàu hú vang và tiếng thở "xình xịch... xình xịch..." của nó. Tiến là người bạn thủa ấu thơ, là tình yêu của tuổi thiếu thời, và bây giờ là chồng, là phân nữa cuộc đời của cô, anh ấy là người tốt, chiều hôm nay cô mới nhận ra thật rõ ràng điều đó.

Chiều ơi chiều! Sao bỗng dưng chiều hôm nay trời đẹp quá, biễn đẹp quá... Nhưng hoàng hôn đang buông xuống, từ từ nhuộm tối không gian.

Tiền nhảy xuồng ghềnh đá, đưa hai tay ra nắm lấy hai tay Vân, anh nhẹ nhàng dìu Vân xuống, hai người đi dọc theo bờ cát như ngày xưa còn bé, Tiến lôi Vân chạy theo những con sóng nhỏ đang liếm bờ, rồi anh cố tình ngã lăn, kéo theo Vân nằm nhoài lên người anh. Một đợt sóng tràn vào phủ trọn lên người Tiến và Vân, hai người thích thú cười vang, nước biễn lọt vào miệng họ mặn chát...

Lòng họ rất ngọt ngào vì đã tìm lại được ngày xưa của nhau. Chiều đang xuống chầm chậm, mong sao chậm hơn tí nữa... nhưng mà không cần thiết lắm đâu vì đêm nay mới thật sự là đêm tân hôn của hai người.

Trời đang là mùa Xuân và mãi mãi vẫn sẽ là mùa Xuân. -./.


CHUYỆN NHÀ ... ÔNG BREUX - TỪ VŨ

 


CHUYỆN NHÀ ... ÔNG BREUX


                          

  D  ù trên giấy tờ pháp lý chúng tôi là chủ nhân, dù đã hơn 25 năm chúng tôi cư ngụ tại căn nhà này nhưng vợ chồng chúng tôi vẫn nói với nhau: nhà của ông Breux (Bờ-Rơ).

Nhà ông Breux có hai tầng nhưng từa tựa như kiểu nhà quê tại xứ dừa Bến Tre quê hương tôi, 4 gian hai chái lợp ngói đỏ. Chiều dài nhà 15 thước, chiều ngang 4 thước rưỡi nằm trên một khuôn đất diện tích tổng quát hơn 450 thước vuông tuy thế đất không vuông vức thực sự mà hai bên, ở mé sau, lấn qua đất hai hàng xóm mỗi bên 1 thước, nở hậu, nói theo bên mình. Lại còn vui hơn nữa phía trước nếu không chừa đường đi cho lối xóm cũng là đất của ông Breux –đất của chúng tôi- vì chủ nhân của căn nhà trắng phía trước và căn bên mé trái có quyền ưu tiên đi bộ qua nhưng họ lại không được quyền chạy xe, đậu xe trên phần đất này đúng theo luật lệ của Tây đã quy định dù rằng chính chúng tôi phải đóng thuế chủ quyền phần đất này nhờ thế nên tạo ra một khoảnh đất trống dễ dàng để khi chạy xe vào có thể quay đầu lại mà không cần phải lùi xe.

Ngoại trừ chồng tôi còn đi làm ba người hàng xóm đều đã về hưu. Hai người bên mé phải: vợ chồng Quentin, ông chồng trước đây là một trưởng toán của một công ty xây dựng cầu cống. Hàng xóm bên mé trái già nhất, George và bà vợ bị liệt một bên chân trước đây hành nghề may vá. Hai người thân thiện nhất với tôi, có thể vì họ cũng là người nước ngoài tới đây vì hoàn cảnh: vợ chồng Marino, trẻ hơn George một vài tuổi, chủ nhân của căn nhà gầy cao màu trắng, gốc Ý, ông chồng làm nghề xây cất nhà cửa bà vợ làm việc chung với bà George. Khu xóm, 4 nhà, tổng cộng 9 người kể cả con trai tôi. Nằm đối diện cạnh khu đất trước hàng rào nhà là một trường tiểu học bán nội trú thiên chúa giáo bên kia bức tường cao dài trắng chạy dài từ cổng chính bọc hết sau lưng nhà ông bà Marino. Tiếp đó, một dãy nhà cao nằm quay lưng ngay phía sau nhà vợ chồng George: trường trung cấp tư thục Aviat. Chính nhờ thế nên ban ngày cả khu êm ả. Nắng chiều vừa tắt, Marino mang chìa khoá ra khoá chiếc cổng sắt mở ra đường để yên tâm không sợ bị kẻ lạ đột nhập.


Nhớ lại, sau khi đã cầm giấy tờ làm chủ trên tay, đầu tháng 9, sau thời kỳ nghỉ hè, 5 cô con gái đã lần lượt lên đường chuẩn bị đi học, một tuần lễ trước khi giao nhà cho chủ mới, chồng tôi lấy 3 ngày nghỉ cuối tuần để về Largentier sau khi tôi đã chạy mở đồng hồ điện đồng hồ nước.

Khoảng cách giữa nhà cũ với nhà mới không bao xa nhưng mất hơn nửa ngày để dọn đồ đạc.

Tủ ỷ bàn ghế máy móc nặng nề, cồng kềnh tôi giao cho một cơ sở chuyên về việc dọn nhà. Đồ đạc lỉnh kỉnh khác chồng tôi và bốn người bạn khác tiếp tay đã phải đi tới đi lui 4,5 chuyến xe lớn nhỏ chuyên chở.

Chỉ nội chuyện "lôi" được vào nhà, qua cửa chính bề ngang chưa đầy 80 phân, bộ bàn ăn, bộ sa–lông, chiếc tủ sách và chiếc piano với vài tiếng "merde, merde" -đồ chết tiệt- của hai người khiêng vác Tây của cơ sở dọn nhà, đã như một kỳ công. Họ đã phải xoay tới xoay lui, xoay tả xoay hữu, nghiêng bên này, ngả bên kia. Cuối cùng cũng phải vào được. Bộ sa–lông, chiếc tủ sách cồng kềnh và chiếc piano chiếm chật gian phòng khách. Phòng ăn với bộ bàn ăn và chiếc tủ buffet trịch thượng chỉ chừa lại lối đi quanh khoảng hơn 1 thước. Tôi cho khiêng 8 chiếc nệm ngủ vào 2 căn phòng kế bên phòng khách. Phần còn lại...tính sau.

Tuy sắp vào thu nhưng mưa chưa đến nên những tủ ỷ đồ đạc khác được ngổn ngang nằm hứng nắng chiều, trong sân cùng lúc một người trẻ thất nghiệp được tôi mướn ba ngày đang cưa cắt dẹp bỏ sang một bên những cây, cành đang tỉa ngang tỉa dọc trong vườn để có chỗ chất đồ đang mang tới.

Chuyện đó đâu phải là chuyện lạ với một gia đình đông người, chỉ nội 5 chiếc tủ sách, 5 chiếc bàn học của các con kèm thêm chiếc bàn làm việc kiểu Richelieu của chồng tôi cộng thêm giường tủ áo quần, chổi cùn chiếu rách ... đã đầy vườn.

Vợ chồng chúng tôi buộc lòng chỉ sử dụng những đồ đạc cần thiết cho 3 người còn những đồ đạc linh tinh khác vì tôi không muốn nên được tháo ra, cứ cái nhỏ chồng lên cái lớn...xếp vào kho, một kho dài khoảng hơn 10 thước ở vườn sau. Đám đồ đạc, máy may kỹ nghệ ... thiếu may mắn này dưới lớp màng nhện hiện vẫn còn nằm chờ đợi ... trong niềm hy vọng ... nếu có đứa con nào cần sài thì cứ về lấy mang đi.

Buổi đầu khi vừa mua, một vài người bạn Tây, Ta, đến chơi, nhiều người lắc đầu. Vợ chồng một người, làm chung sở với chồng tôi, không sợ mất lòng đã nói thẳng:

- Nhà này như một căn nhà hoang phế, anh chị phải sửa chữa lại rất nhiều...

Họ nói không đúng mà cũng đúng vì vợ chồng tôi, những ngày thứ bẩy, chủ nhật lụi hụi làm... chạy xe tìm mua vật liệu làm mộc, làm hồ. Dù không biết nghề nhưng chúng tôi tự làm lấy. Tự thay lấy những chiếc cửa cái, những dàn cửa sổ, cô lập trần nhà để chống lạnh, đập tường rào trước vườn nhà tự làm một garage cho xe. Cô lập, tạo dựng, trang hoàng toàn thể tầng lầu nơi con trai út ở... Chồng tôi đã không để tôi phải làm một mình từ A cho tới Z nữa ngoại trừ việc xuống bếp nấu ăn.

Người ta thường nói : Nóc nhà xa hơn kẻ chợ nhưng với vợ chồng chúng tôi thì nóc nhà chúng tôi gần hơn kẻ chợ rất nhiều bởi một lẽ chúng tôi bắc ráp thang, leo lên rất thường xuyên để xây lại ống lò sưởi, cô lập chống nóng lạnh rồi lợp lại toàn bộ diện tích nóc nhà...

May mắn cho chúng tôi nhờ cột kèo bằng gỗ sồi nên dù gần 100 tuổi căn nhà vẫn thẳng thắn không chút nghiêng ngả. Tường giữ hơi ấm mùa đông, mát mẻ về mùa hè.

Cứ như thế, hai vợ chồng làm lại một gian bếp lớn, rộng hẳn ra. Xin mở đường cung cấp khí đốt và trang bị toàn thể nhà một hệ thống sưởi cho mùa đông. Bắt lại hệ thống điện. Bọc mái chiếc cầu thang không để chịu mưa chịu nắng như trước. Tráng bê tông căn hầm và xây thêm một nhà tắm dính liền với kho chứa đồ đạc. Xây bít cửa chạy tuột từ cửa rào vào phòng ăn. Đặt cửa chính mới ngay giữa mặt tiền trên bậc tam cấp. Thay mới toàn bộ những cửa sổ mặt tiền rồi cũng đúc bê tông lót gạch bông chạy dọc suốt chiều dài căn nhà để khi từ vườn bước vào không lôi theo sỏi đất...

Ngoài vườn trước, những cây cổ thụ xum xê che kín nắng bị đốn bỏ chỉ chừa lại 2 cây táo, một cây lê và một cây mận. Chồng tôi cuốc sới trồng cỏ và nhiều loại hoa nở tùy theo mùa. Phần tôi, tôi trồng trên phần đất vườn "của tôi", chồng tôi không có quyền trồng bông hoa gì trên phần đất này, ở phía sau một dàn su-su đàlạt, một dàn bầu cành lá bò leo trên cửa sổ phủ tới mái nhà mùa thu mỗi năm ăn không thể hết đem chia tặng bà con người đồng hương quen biết. Tôi trồng cả rau dấp cá món mà chồng tôi không thích vì có mùi kỳ cục như lời ông nói. Trồng khổ qua, rau húng, rau thơm, tía tô, ớt... những cây qủa mà bà con ViệtNam ở đây nói là khó trồng. Để có nước tưới mà không sử dụng nước robinet cho khu vườn "của tôi", ngay cả vườn phía trước của chồng tôi, tôi qua bên hãng nhuộm nằm ngay mé đường bên kia trước cổng nhà mua rồi nhờ mấy người thợ nhuộm Tây vốn dĩ rất ga-lăng với đàn bà, khiêng qua cho tôi 3 chiếc bồn bằng nhựa hứng cả ngàn lít nước mưa. Có lẽ tôi có tay trồng lại năng tưới bón nên cây nào cũng xanh tươi, đơm bông, kết trái.

Ở nhà ông Breux chúng tôi được hưởng những điều thú vị đặc biệt mà gần như hay có thể nói rằng độc nhất: nghe tiếng chim cu gáy từ 6 giờ sáng trên những ngọn thông bên vườn vợ chồng ông bác sĩ già Vincennes tiếp đến tiếng hót líu lo chạy nhảy của những chú chim sẽ, chim tit (mésange),... ngay trong vườn nhà rồi 7 giờ tiếng nói cười của những đứa trẻ bên sân trường học: Bản hợp âm này chỉ tạm ngưng khi bầy trẻ phải vào lớp để rồi lại tiếp tục lúc chúng được ra chơi hay phải ăn trưa cứ thế cho tới chiều tối. Âm thanh, tiếng động tiếng hò hét cười đùa của những đứa bé không chát chúa khó nghe mà ngược lại rất hồn nhiên chứa đựng một cái gì thánh thiện mà tôi không thể nào diễn tả nổi.

Chồng tôi được ở nhà quê như ông ao ước: Ban ngày, ông chỉ cần đi bộ 5 phút ra đầu đường, ông có ngay sự nhộn nhịp không ngừng của xe cộ, của những khách bộ hành qua lại. Quay về vườn nhà ông nghe tiếng chim hót, tiếng ong vo ve tìm bông hút mật, vài cánh bướm chập chờn trên những đám hoa do chính tay ông trồng. Buổi tối ông chỉ cần ngó qua kính cửa sổ hay ra ngồi phì phà điếu thuốc trên bậc tam cấp ngắm trăng sao lấp lánh trên bầu trời.

Ở nhà ông Breux, chồng tôi không chỉ ở nhà quê mà ở nhà quê ngay giữa trung tâm thành phố

Hai vợ chồng cùng chung tay làm nên cũng vui, ít tốn kém tuy nhiều khi thời giờ bàn cãi lâu gấp hai lần giờ làm. Làm xong, hai vợ chồng cùng đứng ngắm nghía, nhìn nhau cười. Việc gì người ta làm được thì mình phải làm được !. Lẽ tất nhiên mình làm không được đẹp như thợ làm.

Căn nhà không một ai còn có thể nói được là điêu tàn hoang phế nữa mà phải gọi là căn nhà Thanh Thản.


Nhà ông Breux đã cửa đóng then cài chờ đợi chúng tôi suốt 8 năm từ ngày ông qua đời hưởng thọ 61 tuổi vì đột qụy tim, căn bệnh ông vướng phải ngay lúc còn nhỏ.

Khi ký giấy mua, chúng tôi không để ý tới người ký tên bán. Chỉ sau mấy tháng lúc đã về ở nhà này qua những câu chuyện vãn với bà Marino, nhất là sau này với ông Maurice bạn thân của ông Breux, chúng tôi mới hiểu ra lẽ rằng người ký trên giấy bán chỉ là đại diện cho một bà thừa kế duy nhất của ông Breux, một bà cô họ đã già đang sống trong một viện dưỡng lão ở xa mà nhân viên một văn phòng thám tử tư phải vất vả điều tra suốt 7 năm khắp nước Pháp mới truy tìm ra được.

Theo lời Maurice thuật lại. Bạn ông, Léon, cùng học chung một lớp từ mẫu giáo và là người sau này khi lấy vợ đã nương náu trên căn gác nhà chúng tôi hiện nay cho tới lúc mua được một căn nhà cùng nằm trên đường, chỉ cách khoảng 100 thước bên mé trái cổng ra vào, bên phía trường học. Khi được 7 tuổi, cậu bé Léon suýt chết vì bỗng dưng ngã lăn trong sân chơi may được cấp cứu. Léon là con một, cha ông là một người phát thơ làm việc cho bưu điện thành phố còn mẹ ông là thợ may như rất nhiều người khác ở thủ đô may vá này, toàn khu này trước đây là những xưởng may quần áo. Khu xóm trong đó có nhà của chúng tôi là khu dành cho nhân viên các cơ xưởng này tùy theo chức vị, nhân viên hành chánh hay trưởng toán ...

Khi tai nạn xảy ra, bác sĩ khám nghiệm mới cho biết rằng cậu bé Léon Breux bị bệnh tim khá nặng cần phải giữ gìn và điều trị. Vừa học xong tiểu học, ba năm sau cha cậu bị tử thương trong một tai nạn lưu thông, chỉ còn mẹ vẫn tiếp tục làm lụng nuôi cậu ăn học. Trong thời kỳ này vài lần cậu Léon lại bị tai biến hệt như lúc mới 8 tuổi. Bác sĩ khuyên mẹ cậu không nên cho cậu lập gia đình. Lại kém may mắn hơn vừa bước vào trung học đệ nhị cấp mẹ cậu đột nhiên qua đời. Chôn cất lo liệu cho mẹ xong, cậu ở vạy, bỏ học quanh quẩn với căn nhà, với khu vườn và những kỷ niệm với mẹ cha.

- Những cây táo, cây lê do nó trồng. Lời Maurice. Nó ít khi dám đi một mình, chợ búa thì tôi chở đi, xe cộ nó đâu dám lái rủi ro...

- Rồi ông ấy trị liệu ra sao ? Tôi hỏi Maurice.

- Thì đi bác sĩ 6 tháng 1 lần, thuốc men uống đều đặn theo lời căn dặn của bác sĩ. Cái phòng ngủ thứ 2 ở dưới nó mới vừa mướn người làm lại mới sắm thêm lò sưởi mới được chừng 8 tháng chớ đâu có lâu lắc gì !. Bà còn thấy đó, nó cho người ta làm cái trần còn trắng cong cong chạy viền trang trí, mau một cái lò sưởi mới toanh lại cho làm thêm bên cái chái một nhà tắm mới...

Đúng như Maurice nói, căn phòng thứ hai mới từ trần cho tới sàn. Nhà tắm cũng như thế chỉ trừ một điều lúc mới dọn về tôi phải lau chùi, hút màng nhện, hút bụi năm bẩy lần, chuyện này cũng đâu có lạ vì 7,8 năm không ai săn sóc.

- Ông Breux bị chết như thế nào? Tôi hỏi tiếp.

- Nó chết lúc nào cũng không ai biết, hai ngày sau Marino không thấy Léon ra vào ngoài vườn nên không nghe tiếng chào hỏi "bonjour" ,chào buổi sáng, như mọi bữa nên đã mở cửa vườn vào gõ mấy lần bên trong vẫn im lặng, Marino gọi George để báo động George qua gọi tôi ... cũng xui xẻo cho nó ba bữa đó tôi lại phải đi thăm gia đình thằng con trai ở trên Vosges -khoảng cách chừng 300 cây số- mới vừa trở về sáng sớm bữa đó ... khi cả ba tung cửa vào thì thấy Léon nằm sóng soài dưới sàn....Phải chi tôi ở nhà chắc nó còn sống ...

Maurice, ngừng lại để nén cơn xúc động, nói tiếp:

- Theo lời những người tới đem xác nó đi thì nó lại bị lên cơn ngã lăn xuống sàn, nó cố bò tìm thuốc uống cất trong tủ thuốc treo bên phòng ngủ của mẹ nhưng không thể bò nổi tới được và ... ra đi.

Cố tình muốn làm quên nỗi buồn của Maurice tôi hỏi:

- Người Việt chúng tôi nói sống, chết có số ông ạ. Tôi ngưng một chút rồi tiếp: Thế lúc đi học ông Breux có bạn bè trai gái nào không? Tôi hỏi ông Maurice. Maurice thở dài, cười nhẹ:

- Bạn trai được vài người nay thì kẻ còn người mất tản lạc khắp nước Pháp. Bạn gái cũng không có nhiều. Hình như người thân thiện nhất, không biết có phải bồ bịch hay không, có cô Hélène ... nào đó. Đám ma nó chỉ có mặt bà con lối xóm còn họ hàng thân thích không một ai... Nó được chôn cất tại nghĩa trang thành phố này, trong phần mộ gia đình chung với cha mẹ. -./.

Troyes-Pháp, Sérénité ngày 27.11.2023-16.10'.


lundi 19 février 2024

ĐÊM NGHE TIẾNG THỞ DÀI - HỒ THỦY

 








ĐÊM NGHE TIẾNG THỞ DÀI





Đ ồng hồ bên ngoài phòng khách dạo lên một khúc nhạc đơn điệu, cứ mổi giờ một lần như vậy, sau đó là tiếng “ đinh đong…đinh đong…” …chín giờ đêm rồi. Con đường không có đèn chiếu sáng nên giờ này là tối thui vắng vẽ, sự ồn ào và một chút ánh sáng đèn có được là từ quán hủ tiếu kèm theo cà phê cóc ở phía bên kia đường của vợ chồng ông Bách bán suốt ngày đêm không nghỉ. Đứa con gái lớn của tôi: gọi là bé Hai, bốn tuổi- nằm phía bên trong mé giường nhướng mắt ngáp dài hỏi:

- Mẹ ơi, giờ này sao cha chưa về?

Tôi nâng đầu đứa con gái nhỏ lên -là bé Ba, hơn hai tuổi đang nằm phần giữa cái giường – kê lại cho ngay ngắn trên gối, trả lời:

- Chắc cha còn bận công chuyện.

Bé Ba cũng hỏi, giọng hơi ngái ngủ:

- Chừng nào cha về hả mẹ?

Tôi xoa xoa lưng con bé Tư- sáu tháng, nằm sát bên thành giường - dổ cho nó ngủ, trả lời tiếp:

- Bao giờ xong việc thì cha con về.

Bé Hai lại hỏi:

- Chừng nào cha mới xong việc hả mẹ.

Tôi nằm xuống phần giường còn lại giữa hai đứa bé, thở dài:

- Lâu lắm, thôi; ngủ đi con, khuya rồi đó.

Bé Tư năn nỉ:

- Mẹ ơi, hát ru cho con ngủ đi mẹ.

Tôi cầm cây quạt giấy phe phẩy cho ba đứa con gái, đêm nay cúp điện, mùa hè trời nóng nực, trong căn phòng đã nhỏ lại còn bí chịt nên ngột ngạt quá chừng, tôi cất giọng hát ru cho các con ngủ:

Ầu ơ… ví dầu tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dử cho rồi bậu ra
Bậu ra cho khỏi tay qua,
Cái xương bậu nát cái da bậu mòn…

Kỳ quá, tại sao tôi lại hát ru con ngủ bằng những câu ca dao buồn và đầy cay đắng như thế này kia chứ? Ai là “Bậu”? Ai là “Qua”? có lẽ vì giọng ru của tôi nảo nề lắm nên chỉ mới mấy câu thôi mà các con tôi đã ngủ rồi, tiếng thở đều đều nho nhỏ của trẻ thơ vang trong đêm sát bên tai tôi nghe thật là dễ thương, nó xoa dịu được phần nào nổi cô đơn trong lòng tôi.

Đồng hồ lại dạo thêm một khúc nhạc rồi sau đó là “ đinh…đong…đinh… đong… đinh…đong…” tôi đếm được mười tiếng. Con tắc kè trên trần nhà kêu “…ọc…ọc…ọc…tắc kè…tắc kè…”giữa không gian im vắng tiếng kêu của nó trở nên to lớn đầy ghê sợ làm sao ấy.

Giờ này chắc chắn là chồng tôi chưa về , tôi đã quá quen thuộc với âm thanh của chiếc xe Honda 90 mổi khi anh ấy về gần đến nhà, bao giờ cũng vậy, anh tắt máy ngay từ đằng xa và để cho xe chạy theo cái đà đang có, khi đến trước cổng nhà anh đạp thắng và nó phát ra một tiếng “ kít” rất nhỏ, bình thường có lẽ sẽ không ai nghe được, nhưng với riêng tôi vì lúc nào cũng ở trong tâm trạng đợi chờ nghe ngóng chồng về, rồi lâu dần lổ tai tôi trở nên nhạy bén từ hồi nào không hay. Phải chờ đến tiếng gỏ thứ nhất qua một ngày mới, lúc đó chồng tôi vào đến sân trong.


***

Những âm thanh xôn xao của một ngày mới bắt đầu, các con tôi vừa thức dậy, tôi để sẵn cho hai đứa lớn hai gói xôi, đứa nhỏ nhất chỉ cần bú mẹ. Bé Hai vừa ngậm miếng xôi vừa hỏi:

- Cha đâu rồi hã mẹ?

Tôi dụi mặt vào mái tóc thơm mùi sữa của bé Tư, lòng hơi buồn:

- Cha đi làm rồi.

Bé Ba vùng vằng:

- Sao cha đi sớm vậy? Sao cha không chờ con thức rồi đi hả mẹ.

Tôi ậm ừ:

- Có lẽ cha có việc quan trọng nên đi sớm.

- Ngày nào cha cũng có chuyện quan trọng hết trơn. Mẹ nhỉ.

Bé Hai phàn nàn sau khi ăn hết gói xôi. Tôi cười buồn nhìn hai đứa lớn, biết giải thích thế nào với các con khi chính tôi cũng đang muốn có cho mình một câu trả lời, nhưng thôi, phải lăn xã vào công việc nhà, một công việc không tên, làm hoài có hoài, không làm cũng không sao, chỉ phải mang tội lười biếng mà thôi. Đưa bé Tư qua gởi thím Sơn kế nhà, tôi lại “ tay bồng tay dắt” hai đứa lớn đi chợ, phải tính toán thế nào đây cho vừa đủ số tiến chồng phát mổi sáng, cố gói ghém làm sao cho dư ra chút ít, để dành đó lâu lâu gởi về quê cho cha mẹ già.

Thời gian gần đây tôi thường nghe những lời ong tiếng ve bên tai, khi xa, lúc gần cho tôi biết có chuyện gì đó về chồng tôi nhưng chưa rỏ ràng cho lắm, vẩn chỉ là những tiếng gió lao xao, tôi chưa vội thắc mắc hạch hỏi khi chưa có bằng chứng rỏ ràng. Mổi sáng anh ấy đi làm rất sớm khi các con tôi còn say ngủ, và khi anh ấy về nhà thì con đã ngủ say, cách một chiều anh về sớm được một lần chỉ để thay bộ đồ mới tôi đã giặc ủi phẵng phiu, đó là khoảng thời gian ngắn ngủi các con được cha nựng nịu chơi đùa một chút rồi anh vội vã lên xe…chỉ có ngày Chúa Nhật các con tôi mới được ở bên cạnh cha nó nhiều hơn và được cha chở đi lễ nhà thờ. Với trẻ thơ thì quả là hạnh phúc nhưng còn quá ít, các con tôi muốn được gần gủi cha nhiều hơn thế.


***

Tôi bồng bé Tư ra đứng trước cổng nhà, bé Hai, bé Ba đang chơi với con búp bê nhựa ở trong sân. Tôi ngó mông phía trước mặt, nhìn ngược lại sau lưng, giờ này chắc chắn là chồng tôi chưa về, nhưng sao cứ mổi buổi chiều sau khi cho hai đứa lớn ăn cơm xong, tôi lại bồng con nhỏ ra ngoài đường đứng đợi, hình như đó là một thói quen? Đôi khi tôi ngậm ngùi nghỉ rằng mình như thiếu phụ Nam Xương, chờ chồng đến hóa đá, cũng may là tôi không hóa đá vì tôi có rất nhiều việc phải làm, còn phải lo cho các con…

Bé Hai lại hỏi:

- Mẹ ơi, trời tối rồi, sao cha chưa về?

Tôi lại cười buồn, câu hỏi của các con như một bài ca quen thuộc, lập đi lập lại mổi ngày, tôi cứ phải trả lời như củ, nó trở thành một điệp khúc nhàm chán. Phía bên nhà ông Bách đèn bắt đầu bật lên, khách ra vào uống cà phê, ăn hủ tiếu mổi buổi tối không nhiều bằng buổi sáng nhưng vẫn ồn ào đủ mọi thứ âm thanh, cũng nhờ vậy mà con đường này có vẻ sống động đôi chút. Tôi đưa các con vào nhà, giờ này tôi không dám ở ngoài sân, nổi lo lắng sợ hải khi trong nhà chỉ có mấy mẹ con chân yếu tay mềm…lúc nào cũng đeo bám, ám ảnh tôi.

Đồng hồ dạo nhạc và gỏ chín tiếng, tôi lùa các con lên giường, bé Hai lại hỏi:

- Mẹ ơi, sao giờ này cha chưa về hả mẹ?

Tôi không trả lời cho câu hỏi của con, mà dổ dành chúng nó:

- Ngủ đi con, mẹ ru con ngủ nhé.

- Sao mẹ không kể chuyện cổ tích cho con nghe?

Tôi vuốt tóc bé Tư đang ngậm vú mẹ ngủ, trả lời con:

- Mẹ thích ru cho các con ngủ hơn là kể chuyện con à…mẹ ru nhé:

Ầu ơ… cái cò đi đón cơn mưa,
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về.
Cò về thăm quán cùng quê,
Thăm cha thăm mẹ cò về thăm anh.

Các con tôi đã ngủ, sao tôi cứ ưa ru mãi những câu ca dao rất buồn như thế này? “cò” là ai và “anh” là ai đây? Thôi, đừng suy nghỉ lung tung nữa, ngoài đừơng có tiếng rao khàn đục của một người đàn ông văng vẳng trong đêm khuya:

- Ai… ăn bánh chưng… bánh giò… ?

Tôi không trông mong một thứ âm thanh nào ngoài tiếng xe honda của anh ấy, con tắc kè lại kêu lên những tiếng ồn lớn, rộn ràng. Còn lâu lắm chồng tôi mới về, các con tôi đang ngủ say nên không đứa nào biết mẹ nó đang thao thức trằn trọc vì cha nó vẩn còn mải mê đâu đó....

Tôi lăn qua trở lại thật khó khăn trên phần diện tích chật hẹp của chiếc giường rộng một mét sáu dài hai mét chất chứa đến bốn mẹ con, chồng tôi được ưu tiên thoải mái nằm riêng ở cái giường có chiều ngang một mét hai. Khó ngủ quá, tôi bị bệnh mất ngủ từ bao giờ mà không nhớ nổi. Có lẽ từ lúc tôi không còn đi dạy học nữa chăng? Mổi khi soi gương nhìn mình mà ngậm ngùi chua xót, tôi của ngày xưa đã thay đổi theo từng ngày, từng tháng qua đi, lâu dần tôi thấy mình giống một đứa ở đợ không hơn không kém. Tôi đã hy sinh, đánh đổi nghề nghiệp cao quí của mình để nhận lấy một công việc mà tôi tự cho là cao quí hơn: làm vợ và làm mẹ; thế đó. Nhưng rồi tôi không còn được nhận những cái nhìn ngưỡng mộ yêu quí của chồng và những người thân, ai cũng cho là tôi quá ngu khi bỏ nghề dạy học mà ở nhà, trong mắt của rất nhiều người, có luôn cả chồng tôi nữa; đã nghỉ rằng tôi làm biếng chỉ muốn ở nhà chơi để được chồng nuôi. Tôi cay đắng xót xa khi hiểu được điều người ta nghỉ- con mắt là cữa sổ của tâm hồn mà- tôi lại rất giỏi khi đọc những điều người khác muốn nói qua cài nhìn của họ.Chồng tôi có lẽ là thất vọng nhất, vì không còn được nghe những tiếng trầm trồ ở sau lưng: “ vợ anh ta dạy học đó nhé…anh ấy có vợ làm giáo viên…”.

Từ khi nghỉ dạy tôi ở nhà làm những việc không tên, điền vào giấy là hai chử “ nội trợ”. Không có gì là danh giá để hãnh diện cả, nhưng kể từ đó căn nhà nhỏ của chúng tôi trở nên gọn gàng ngăn nắp, áo quần của chồng và các con được giặc thật kỷ, ủi thật thẳng, con gái chúng tôi thơm tho, sạch sẽ, tóc tai lúc nào cũng được chải gở bím thành hai bím lủng lẵng xinh xắn như búp bê, những bữa cơm luôn ngon và được hâm nóng dọn lên bàn mổi khi chồng tôi về nhà sớm một cách bất thường. Thế nhưng chỉ có mình tôi cho đó là những công việc cao đẹp mà thôi, lâu dần tôi mới nghiệm ra một điều và có một định nghĩa cho danh từ VỢ đó là:

      1/ người làm công rất chu đáo nhưng không nhận tiền.

      2/ vú em tuyệt vời mà lại miển phí.

      3/ quản gia tích cực đầy tin cậy không lãnh lương.

      4/ người để cho chồng “ giải quyết chuyện riêng” được an toàn tuyệt đối mà không phải trả tiền.

Mỉa mai chua xót làm sao ấy. Đêm đêm khi chờ chồng về tôi thường nhớ lại ngày xưa, nhớ lừ lúc còn nhỏ cho đến khi biết yêu, nhớ tháng ngày là sinh viên rồi ra trường đi dạy, ngày lấy chồng rồi có con, tôi có hai lần yêu: mối tình đầu và mối tình cuối nếu như…bây giờ soi gương nhìn lại mình thì tôi không còn là tôi nữa rồi.

Có tiếng xe của chồng tôi ngừng từ đằng xa và đà chạy của bánh xe đang còn trớn sau đó là “…kít…” thật nhỏ. Tôi ra khỏi giường, định rằng tự tay mình mở cổng cho chồng vào để có thêm chút tình cãm đậm đà vì nó đang bị phai nhạt dần theo thời gian, nhưng tôi choáng váng khi nhìn thấy qua ánh đèn mờ mờ trước hiên nhà: chồng tôi đang móc bóp lục tìm và lấy ra chiếc nhẫn cưới đeo lại vào ngón tay. Tôi trở vô giường, lặng lẽ khóc khi đã có câu trả lời cho chính mình: tại sao anh về muộn?. Tuy vậy tôi biết rằng vẩn phải trả lời các con một điệp khúc quen thuộc khi chúng hỏi một câu luôn ở đầu cửa miệng:-“ mẹ ơi sao cha chưa về?-“ Mẹ ơi bao giờ cha về?.”

Đêm nay thời gian trôi qua sao dài quá. Có tiếng ngáy sung mãn của chồng ở chiếc giường phía bên kia, tiếng thở nhịp nhàng đều đặn của các con ở bên cxạnh, con tắc kè kêu lồng lộng giữa đêm khuya và có luôn cả tiếng của trái tim tôi đang nghẹn ngào thổn thức, nước mắt tuôn ướt gối.


***

Tôi dặn chồng nếu có thể được mong anh về sớm vì tôi có chuyện cần nói. Anh ấy nhìn tôi hơi có vẻ ngạc nhiên nhưng không hỏi vì sao mắt tôi đỏ ké? vì sao mặt tôi buồn rười rười? Vì sao giọng nói của tôi khàn đục? Cũng không hỏi vì sao tôi khóc? Tôi biết lắm khi bây giờ tôi chỉ là con số “không phẩy chín” trong mắt anh.

Một ngày mới không có gì lạ với những công việc không tên, tôi tự an ủi mình: “ cố gắng rèn luyện để trở thành một người giúp việc tốt” đúng với danh nghĩa người giúp việc, mai sau không sợ thất nghiệp. Tôi gượng vui với những câu nói thơ ngây của các con nhỏ, tôi tìm niềm an ủi trong những bàn tay bé xíu ưa nắm chặt lấy tay tôi.

Chồng tôi không về sớm như lời tôi dặn dò, có lẽ anh đang có “ con đường tình ta đi ” mới lạ hấp dẫn nên đã quên, không còn muốn về sớm với “đường xưa lối củ”. Tôi vẩn phải thao thức chờ đợi và nghe từng tiếng thở trong đêm. Bắt đầu là con tắc kè kêu to khi đồng hồ điểm mười tiếng, phụ họa hòa âm với nó có tiếng con thằn lằn chắt lưỡi, đệm thêm vào là tiếng rã rích của mấy chú dế mèn. Tôi chờ đợi tiếng rao buồn buồn khàn đục của ông bán bánh giò với cung bậc trầm bổng ngân xa:

- Ai…ăn bánh chưng… bánh giò ?

Khi rao chử “ ai” ông ta xoáy cao giọng thành chử “ái”, thêm vào một chút luyến láy và cuối cùng tới chử“ giò” thì giọng rao của ông ta cụt ngủn thấp xuống một cách bất ngờ. Người bán bánh chưn bánh giò đi xe đạp, hai bánh xe quay tròn phát ra những tiếng kêu cọc cạch khô khốc như người chủ của nó đang rao hụt hơi.

Đồng hồ lại dạo nhạc và gỏ mười một tiếng, tim tôi có mười một nhát dao đâm vào, chồng tôi vẫn chưa về. Bây giờ đến lượt tiếng vó ngựa đập xuống đường nhựa kêu lóc cóc, chuyến xe thổ mộ chở rau quả trái cây từ miệt quê đang đi vào thành phố, bao giờ cũng vậy, khi đến quán ông Bách là ngừng lại để chủ vào uống ly cà phê vợt; là đổ cà phê vô trong một cái vợt bằng vải, ngâm vào trong siêu nước– thường được dùng để sắc thuốc bắc- cái siêu cà phê vợt đặt lên trên bếp lữa lúc nào cũng cháy đỏ, đây là một cách uống vừa nhanh, gọn và rất bình dân. Con ngựa đứng yên một chổ chờ người chủ, hình như nó sốt ruột nên bốn chân cứ nhấp nha nhấp nhổm không yên trên mặt đường vì thế có những tiếng lốp cốp rất nhẹ vang lên…từ bốn cái vó ngựa.

Mười hai tiếng gỏ vang lên trong đêm khuya thanh vắng, tôi nghe từ đằng xa có tiếng bước chân nặng nề chậm chạp của con bò chở những cây tầm vông dài thậm thược đang tiến gần lại, phần đầu ngọn cây tầm vông chạm mặt đất, kéo lê trên đường theo mổi bước đi của con bò làm phát ra những tiếng kêu “ xèng…xẹt…xèng…xẹt…” đều đặn và buồn buồn như sự cam chịu của một kiếp làm thân con bò. Chủ của chú bò cũng ngừng lại quán cóc của ông Bách để uống một ly cà phê, cũng khá lâu thì tôi nghe tiếng roi quất vào mông chú bò “ đét “, và tiếng người chủ ra lịnh “…tắc… đi nào…” chú bò lại nặng nề chân bước làm những bó tầm vông lết dài nhấp nhỏm kêu “… xèng…xẹt…”. Bây giờ tới lúc tôi chờ đợi nghe ngóng tiếng xe honda từ xa của chồng tôi, lúc này anh sắp về.

Chuông đồng hồ gỏ một tiếng, tôi thở ra một hơi dài có chút nhẹ nhỏm ví anh ấy về tới. Trong đêm đen tôi như thấy được anh đang lục túi tìm chiếc nhẩn và đeo nó vào tay.


***

Chuyện quan trọng tôi nói với chồng là những lời ong tiếng ve mà tôi đã nghe rất nhiều, và đó chính là sự thật chứ không còn là tiếng gió lao xao nữa. Tôi muốn anh chọn lựa: dừng lại hay tiếp tục? Dĩ nhiên chọn lựa cách nào thì cũng phải có cái giá để trả giửa ĐƯỢC và MẤT. Chồng tôi đã trả lời:

- Anh sẽ dừng lại nhưng em phải cho anh một thời gian, anh sẽ làm ra vẻ hết tiền để cô ta bỏ anh trước, anh không muốn mang tiếng là người đàn ông phụ bạc khi anh bỏ cô ta.

Tôi đắng nghét cả cổ họng, chồng tôi…một người đàn ông cao thượng không muốn mang tiếng là kẽ phụ tình - dù anh biết rỏ cô gái ấy đến với anh chỉ vì tiền - Nhưng cón với tôi thì sao đây? Chồng tôi sẵn sàng nhởn nhơ, vô tư vô tình mang tiếng phụ bạc tôi, Vậy thì tôi là cái gì? Là số mấy trong trái tim của anh ấy mà một thời anh từng nói với tôi: “em là người duy nhất của anh”. Câu trả lời của chồng tôi thật phủ phàng.

Tôi nói với chồng:

-Em không có thời gian để cho anh, mọi chuyện sẽ tùy vào sức chịu đựng của em, nếu còn sức chịu đựng thì em còn ở với anh, nhưng nếu hết sức chịu đựng rồi thì chúng mình sẽ chia tay nhau trong im lặng, không ồn ào lộn xộn để giử sĩ diện cho anh và nhất là không làm thương tổn đến lòng tự trọng của em.

Chồng tôi la lớn:

- Em không yêu anh, anh biết mà… vì em đã không ghen.

- Ghen có nhiều cách lắm anh à, nhưng ghen không có nghĩa là vì yêu, và yêu không có nghĩa là phải ghen.

Tôi bỏ ra sau nhà, chờ tiếng xe anh ấy đi thật xa tôi mới lặng lẽ ôm ba đứa con vào lòng và khóc nức nở.


***

Đêm nay con hỏi:

- Mẹ ơi, chừng nào cha về?

Tôi vuốt tóc từng đứa con và trã lời:

- Chừng nào cha con muốn về thì cha sẽ về. Ngủ đi, mẹ ru các con đây:

Ầu ơ… núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời không chộ người thương
Người thương ta đội ơn người,
Biển hồ ngàn dặm xa vời lắm thay.

Trời ơi, lại những câu ca dao buồn đến nảo lòng. Không biết ai là “người thương” đây? Và ai là “ ta”? có lẽ từ đây tôi không còn muốn chờ đợi tiếng xe của chồng tôi từ xa chạy về nhà theo đà có sẵn, tôi không chờ nghe tiếng ngáy sung mãn của chồng để dổ giấc ngủ cho mình, mà tôi phải tự ru tôi ngủ bằng những câu ca dao lúc nào cũng buồn ảo nảo, tôi sẽ chờ nghe tiếng con tắc kè vang lên ồn ào lúc chín giờ, rồi tiếp đến là tiếng rao khàn đục của ông bán bánh chưng bánh giò khi đồng hồ điểm mười tiếng thánh thót, tôi sẽ tưởng tượng ra ông ta lúc vui khỏe, lúc ốm mệt theo cung bật qua tiếng rao từng đêm để mừng hay buồn cho ông ấy…Và khi đồng hồ ngân nga mười một tiếng, có tiếng vó ngựa lốp cốp gỏ đều, âm thanh ngắn gọn, dứt khoát …cho đến khi tiếng xe bò kéo lê trên mặt đường kêu thành từng tiếng xèng xẹt rất buồn…

Tôi sẽ ngủ vào lúc nào nhỉ? lúc âm thanh nào vừa vang lên trong đêm? Có những khoãng mốc của từng thời khắc bước tới mang theo từng tiếng động của riêng nó, nhưng bây giờ thì tôi chỉ muốn được ngủ vào khoãng thời gian khi tôi vừa ru xong những câu ca dao buồn- cùng lúc với các con.

Đêm nay tôi sẽ ru tôi và các con bằng hai câu lục bát mà tôi vừa chợt nghỉ ra; có vẽ rất ngậm ngùi:

Cũng đành một chuyến đò đưa,
Người bên sông nhớ chuyện xưa mà buồn.

 








CÁI VÕNG





C hòng chành đong đưa qua lại như chiếc thuyền nan đi trên biển, nó làm cho Phương say say nhợn nhợn muốn ói, bà nội nói đi trên biển cũng có cảm giác say như thế này nhưng nó mạnh hơn vì sóng biển nhấp nhô chòng chành nhiều hơn, nếu Phương muốn mai kia mốt nọ đi vượt biên với cha mẹ thì phải nằm võng cho nhiều, đẩy võng cho mạnh để làm quen với cảm giác say sóng thì sẽ không bị say nữa, bà nội dặn Phương mổi ngày phải qua đây với nội, nằm trên chiếc võng của ông nội thường nằm để tập cho quen.

Phương chỉ được nằm ké võng của ông nội vào những lúc ông đi vắng, còn khi ông ở nhà thì dể dầu gì…ông luôn chiếm ngự nó như nhà vua chiếm ngự ngai vàng. Mổi ngày tan học Phương vội vàng thay áo quần chạy nhanh qua nhà nội – rất gần với nhà Phương – có khi thấy ông nội đã nằm đong đưa trên võng, miệng ngậm điếu thuốc rê, Phương năn nỉ:

- Ông nội, xuống đi nhường cho con nằm.

Ông hứ một tiếng, vừa mắng yêu vừa nhỏm dậy bước ra khỏi võng:

- Cha mày, ngon quá ha…

Mùi mồ hôi và mùi thuốc rê của ông nội “ám” vào cái võng, nó nồng nồng, ngai ngái, hăng hăng và khét khét thế nào ấy, Phương phải lấy cái gối của bà nội để kê dưới đầu, gối của bà thơm mùi bồ kết gội đầu và mùi dầu dừa xức tóc, Phương rất thích hai cái mùi này, không cần có lời ca dao lục bát ru hời “ ầu ơ…” mà Phương cũng đi vào giấc ngủ thật dễ dàng; mặc dù năm nay Phương mười bốn tuổi.

Lúc này ông nội ít đi họp hội với các bạn thơ như trước nên cái võng không còn “rảnh rang” để cho Phương xí phần. Bây giờ thì trước “ngai vàng” của ông nội có thêm một cái tivi của cô út mua tặng, ông nội thích thú khi vừa nằm trên võng để đong đưa nhè nhẹ vừa xem tivi và vừa…ngủ, mổi lần như thế bà nội cười và nói đùa:

- Ông nội cháu đang “ba trong một”.

Nhà Phương ở phố, thuộc dạng nhà ống bề ngang bốn mét, bề sâu mười sáu mét, ở ngoài cửa chính bước vào gặp ngay phòng khách, kế đến là phòng ngủ của cha mẹ, cuối cùng là khu vực bếp với phòng ăn, một phòng vệ sinh chung cho cả nhà, ở trên có một gác lửng dành cho mấy chị em.

Bà nội mua cho nhà Phương một cái võng để khỏi phải qua nằm ké của ông nội, mẹ đặt nó ở phòng khách, trước cái tivi. Mấy lần Phương cũng đã nằm rồi, nó rất là êm không thua gì võng của ông nội, tuy vậy Phương vẫn không thích gì lắm, mặc dù nằm ở đây cũng xem được ti vi như bên nhà nội nhưng làm như nó thiếu thiếu một cái gì đó, nó không lôi cuốn được cái lưng của Phương ghé vào.

Buổi tối khi cả nhà đông đủ thì cái võng là điểm nhắm của mọi người – trừ Phương ra - mấy đứa em thì khỏi nói, thích ghê lắm, dành nhau rồi cãi nhau chí chóe làm cho cha bực mình, thế là cha liền “chiếm ngự” nó để khỏi có đứa nào xí phần khóc la, chỉ có út là được nằm trong lòng cha, được cha đu đưa cái võng êm êm...còn mẹ thì lúc nào cũng nhường hết cho cả nhà, mẹ chỉ nằm võng khi mọi người trong nhà không ai thèm “xí phần” nó. Riêng Phương thì vẫn ưa thậm thà thậm thụt chạy qua nhà nội, năn nỉ ông nội nhường cho Phương nằm ké với cái gối của bà nội kê dưới đầu.

Cuối cùng thì ông nội bê tivi vô phòng, để trên tủ áo cao một mét hai kê ở trước giường, vừa nằm xem tivi vừa…ngủ. Bà nội lại nói đùa:

- Lúc này thì ông nội chỉ còn “hai trong một”.

Bởi vì ông nội đã phải nhường “ngai vàng” cho Phương.

Hôm nay đi học về, chạy qua nhà nội định nằm ké võng như mọi hôm nhưng ông nội than rằng:

- Bữa nay ông nội đau lưng, khó ngủ quá nên phài nằm võng cho êm lưng đặng dể ngủ, đừng buồn ông nhé.

Phương cười, mượn cái gối của bà nội đem về nhà để kê đầu mổi khi nằm võng, nhưng không làm sao có được cái cãm giác thích thú như khi được nằm trong võng ở nhà nội.

Dưới bếp chị giúp việc đang xào nấu thức ăn, mùi thơm bốc lên tận trên nhà, Phương chạy xuống thấy dĩa tôm lăn bột chiên, đưa tay định nhón một miếng thì bị chị giúp việc lấy chiếc đủa đánh nhẹ một cái vào tay Phương, chị la:

- Ăn hổn hã?

Phương giận dỗi bỏ qua nhà nội, hôm nay ông nội vắng nhà, bà nội đang nằm đu đưa, thấy Phương, bà tự động đứng lên nhường võng cho Phương và vô phòng lấy thêm cái gối; Phương dụi mặt mình vào gối hít mùi hương của nội:

- Nhất bà nội của con.

Nội cười:

- Cha con bé, khéo nịnh quá đi.

Bà nội mở lồng bàn lấy miếng chả giò đưa cho Phương:

- Ăn đi, hôm nay bà nội chiên chả giò.

Ah; bây giờ thì Phương đã hiểu tại sao nằm võng bên nhà nội thích hơn nhà mình, đơn giản thôi vì lúc nào nội cũng có sẵn một cái gì đó để cho Phương. Đang nằm đu đưa trên võng; nội tới gần đưa cho Phương một miếng khóm vàng ươm, tươm mật ngọt – nếu hôm đó nội nấu canh chua, có khi là một lát thịt heo luộc hay một cái hột gà, đôi khi là thỏi kẹo chocolat, miếng xoài, trái cóc, ổi mà bà nội đã gọt sẵn, hình như là nội để dành chờ Phương qua…v…v…Bao giờ cũng vậy, như chỉ chờ Phương vừa nằm xuống võng là bà nội dúi ngay vào tay Phương một món gì đó ăn được, rồi bà vừa làm bếp vừa kể chuyện cho Phương nghe. Cái võng của nhà nội có hồn, có không khí, có tiếng nói tiếng cười của nội, có món quà nho nhỏ nội đưa để Phương cho vào miệng…nói chung là cái võng vừa đu đưa vừa mang nặng tấm lòng vĩ đại đầy yêu thương của bà nội.

Bà nội bịnh, bà không thích nằm trên giường vì cái giường ở tuốt trong phòng, bà thích nằm võng hơn vì cái võng kê ngay phòng ăn liên thông với bếp, nằm nơi đây lúc nào cũng gặp mặt các con cháu đến thăm, sinh hoạt nói cười vui vẻ làm bà nội không cảm thấy buồn và cô đơn.

Phương vẫn thường xuyên qua nhà nội, không xí phần cái võng nữa mà lại thích ngồi dưới chân võng nội nằm để xoa bóp chân tay cho nội, bà nội cũng đu đưa cái võng nhè nhẹ và mổi lần như thế nó lại đụng vào người Phương đều đều, nhịp nhàng, êm êm.

Lần này thì ông nội nói:

- Bà nội của con đang “ ba trong một”. Này nhé 1/ nằm võng, 2/ đưa võng,3/ được cháu xoa bóp chân tay.

Bà nội cười yếu ớt, nói một câu trong bài dân ca nào đó rất quen:

- Đố ai nằm võng không đưa?

Không ai trong đại gia đình của nội có thể nghỉ rằng bà nội ra đi nhanh như thế, hiền lành êm ái đến như thế. Buổi sáng thức dậy bà nội than với ông nội:

- Hôm nay tôi mệt nhiều hơn hôm qua.

Ông nội nói:

- Để tôi đi mua phở cho mình ăn nhé.

Bà nội gật đầu, ông nội cầm gà mên đi mua phở, lúc về thấy bà nội đang nằm ngủ trên võng, ông không nở gọi bà dậy nên để gà mên phở trên bàn, ông qua bên sân chùa tập thể dục, lúc về nhà thấy bà vẫn còn ngủ, cái võng ôm gọn lấy thân người bà nhưng không đu đưa như mọi khi. Ông nội khều khều chân kêu bà dậy ăn phở nhưng… không bao giờ bà thức dậy nữa.

Phương cảm thấy mình là người đau đớn nhiều nhất, mất mác lớn nhất khi không còn bà nội, không còn có được cảm giác của sự va chạm nhẹ và đều mỗi khi bà nội nằm đu đưa cái võng làm nó đụng vào người Phương, cũng không còn được bà nội trao cho một món gì đó để ăn mổi lần Phương qua nằm trong võng của nội. Bây giờ thì Phương chỉ còn có duy nhất chiếc gối của nội, nó vẫn giữ nguyên mùi thơm của bồ kết nội gội đầu và dầu dừa nội xức lên tóc.

Phương nằm trên võng nhà mình, ôm gối của bà nội, vùi mặt mình vào đó vừa khóc vì nhớ nội, vừa hít lấy hít để mùi hương của nội còn đọng lại trên gối, bây giờ có thêm mùi nước mắt của Phương nữa, nó mặn mặn và rất buồn…

Bà nội ơi; con nhớ bà.












CÒN CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ








K hi tôi thi đậu Tú Tài hai, cha mạ tôi liền tập họp cả nhà lại với nhau để bàn tính tương lai cho tôi, có hai anh trai tôi đi lính đóng quân ở Sài Gòn được dượng tôi ưu ái cấp phép nghỉ cùng một lúc để về nhà ăn mừng " cô Tú" là tôi đây., và thêm đứa em trai út, không thiếu mặt người nào Lẽ dĩ nhiên là tôi phải được vào Đại Học để sau này còn làm " cô Cử" nũa chứ vì tôi là niềm vinh dự cho gia đình mà. Cha tôi hỏi:

- Con thích học ngành chi?

Tôi trả lời ngay:

- Dạ, nghành Báo Chí, con thích làm phóng viên…

Cha lắc đầu:

- Không được, con gái nết na thùy mị không thể đi lung tung để săn lùng tin tức…, học ngành khác đi.

- Rứa thì con học Luật, con thích làm luật sư.

Hai anh khoát tay phản đối:

- Em như trái mít ướt, hơi tí là khóc, chưa cải được chi cho thân chủ, bị hù dọa là khóc liền ở trước tòa, không được, học ngành khác.

Tôi sụ mặt:

- Hai ngành con thích mà không cho học, con biết học ngành chi chừ.

Đến lượt mạ lên tiếng:

- Thôi, học cái chi mà ra làm giáo sư ấy.

- A, đúng rồi, học Sư Phạm hợp với con lắm đó.

Tôi lắc đầu:

- Con không thích ngành Sư Phạm, chán lắm, để từ từ con nghỉ coi, còn lâu mà, con mới đậu thôi, đã lấy bằng tú tài mô.

Cuộc họp tạm thời chấm dứt khi Vú dọn cơm ra bàn, cha mạ tôi vui nhất, rồi tới Vú. Bửa cơm hôm nay Vú nấu nhiều món ngon để khao "cô Tú ". Tôi thật là hạnh phúc.


Anh hẹn gặp tôi ở dốc đồi dòng Phanxico, vú là người đưa thư hẹn hò vì cha mạ không cho tôi dính vô chuyện tình cảm khi phía trước của tôi là cả một tương lai sáng lạn. Nhưng mà…ai cấm nổi trái tim tôi đừng yêu.

Anh nhìn tôi cười và hỏi:

- Răng? Thủy chọn học ngành chi?

Tôi than:

- Thủy muốn học Báo Chí hoặc là Luật mà nhà không cho, chán ghê.

- Rứa thì để anh chọn cho ha, chịu không?

- Anh thích Thủy học chi chừ?

- Anh thích Thủy học Sư Phạm, mai sau làm cô giáo, anh thích vợ mình là cô giáo, vừa đi làm mà lại có thì giờ lo cho chồng con, Thủy hiền lắm, làm cô giáo rất hợp. Anh sẽ đợi, mấy năm anh cũng đợi, cho tới khi mô Thủy ra trường đi dạy học thì hai đứa mình cưới nhau.

Anh nói tiếp:

- Lên Đà Lạt cho gần, anh hỏi thăm rồi, ở trường trên nớ có ngành Sư Phạm đó.

Tự nhiên tôi thấy yêu nghề dạy học quá, vậy là tôi quyết định học Sư Phạm. Thật là mau lẹ và đơn giản. Buổi tối trong bửa cơm tôi nói với cả nhà:

- Con quyết định học Sư Phạm với Văn Khoa, sau này dạy Văn chương.

Mọi người thở phào vui vẻ, bây giờ tới lượt: Học ở đâu? Sài Gòn chăng? - không được, trong đó xô bồ dể hư thân. Huế à? - ái chà, xa quá. Vậy thì Đà Lạt? - Được đó. Thế là xong.

Trong khi chờ đến ngày tựu trường tôi và anh vẩn hẹn hò gặp gở nhau, vẩn viết thư cho nhau dù ở rất gần nhau và Vú là người làm công việc " chim xanh" cho hai đứa. Khi thấy tình cảm của chúng tôi lớn dần theo ngày tháng thì cha mạ tôi bắt đầu can thiệp: ngăn cấm không cho quen nhau nữa nhưng ông bà đã chậm mất rồi…


Tôi nhập học, nhờ sự giới thiệu của Đức cha Nguyễn văn Thuận mà tôi được nhận vào ờ trong Đại Học Xá Bình Minh. Tôi bắt đầu làm quen với đời sinh viên và thích thú vì được sống xa nhà.

Đà Lạt đẹp và tình tứ, lãng mạn, nên thơ, tôi chấm điểm mười cho thành phố của Hoa Anh Đào, Mimosa, Dã Qùy, Pensée…Viện Đại Học nằm trong một khu đất rất rộng, trong khđất đó có nhiều ngọn đồi và trên mổi ngọn đồi là một giãng đường như: Minh Thành 1,2,3,4, giãng đường Spenmell… khu Năng Tỉnh có một ngôi Thánh Đường nhỏ và một dảy phòng dành riêng cho các Giaó Sư từ SG hoặc Huế nghỉ lại. khu Năng Tĩnh này nằm trên một ngọn đồi có vị trí đẹp nhất, yên tỉnh nhất, còn có một câu lạc bộ dành cho sinh viên nữa.

Mới vào ở đại học xá có năm ngày thôi thì anh ấy đã bay lên thăm tôi, câu đầu tiên anh nói khi ôm tôi vào lòng là:

- Anh nhớ Thủy dể sợ.

Anh chỉ có hai ngày phép để lên ĐL, không có gì sung sướng hạnh phúc cho bằng khi hai ngày đó chúng tôi lúc nào cũng ở bên nhau, chỉ trừ buổi tối tôi phải về đhx để ngủ mà thôi. Đây là bí mật của chúng tôi, cha mạ tôi không hay biết gì.

Tôi vui lắm, làm sinh viên trường đại học không giống học sinh thời trung học. Tôi cảm thấy mình lớn hẳn, trưỡng thành và chững chạc, bản lãnh hơn, mặc dù lúc nào cũng bị kêu: "Thủy mi nhon", có lẽ tại tôi có một dáng dấp rất dễ thương và đặc biệt?

Những ngày nghỉ học các anh chị lớp lớn thường tổ chức những đêm " Văn nghệ bỏ túi" ở một giãng đường nào đó mượn được trong viện đại học. Được đi dự những đêm văn nghệ bỏ túi tôi thích lắm. Vì là lính mới tò te nên tôi rất ngưỡng mộ các chị ở lớp trên, đặc biệt trong số đó có hai chị hát rất hay, đó là chị Lựu và chị Thu Hiền. Người nào muốn đêm văn nghệ do mình tổ chức có " giá trị" thì phải cố làm sao mời cho được chị Lựu, chị Hiền. Chỉ cần một cây đàn guitare, với giọng ca chị Lựu thì Mái Tóc Dạ Hương trở nên óng ã như một dãi lụa đào. Hay Suối Tóc trở nên đen mượt như nhung. Và Ngày Xưa Hoàng Thị, chị Thu Hiền luôn làm cho lòng người nghe phải xao xuyến bồi hồi. Mấy đứa sinh viên đàn em năm thứ nhất như tôi rất ngưỡng mộ hai chị ấy nhưng hình như hai chị không hề để mắt tới…

Chỉ còn mười ngày là đến lể giáng sinh, anh viết thư hẹn với tôi ngày 23/ 12 anh sẽ lên thăm tôi hai ngày. Tôi như được bay bổng trên mây thì bất ngờ cha tôi lên trước anh một ngày, " áp tải" tôi về Nha Trang ăn mừng lễ giáng sinh với gia đình. Tôi buồn quá chừng. Anh gởi tặng tôi một hộp kẹo chocolat, quà không đến tay tôi mà lại đến tay cha tôi, thế là hộp kẹo đang được gói giấy kiếng hoa màu rất đẹp bị cha tôi biến nó thành một thứ đồ phế thải, và mạ tôi lại còn mang lên nhà cô của anh trả lại với một câu buộc tội:

- Hắn bỏ bùa mê trong kẹo cho con Thủy ăn…

Đêm Noel tôi khóc quá chừng.


Thời gian qua nhanh, tôi được lên năm thứ hai với số điểm khá cao mặc dù môn chử Nôm tôi không sao học nổi, và chỉ viết được có ba chử: họ và tên cuả mình. Hình như khi tôi lên năm hai thì giá trị của tôi trong con mắt cha mạ càng lớn, sự cấm đoán càng cao. Cha mạ tôi cương quyết đến tuyệt đối không cho tôi gặp gở anh ấy, đến nổi chỉ cần tôi và anh ấy nhìn nhau khi anh đi ngang qua nhà tôi, mạ lôi ngay tôi vào trong nhà mắng xối xã. Nhưng mà đối với tôi thì mổi lần bị cấm, bị mắng tôi lại càng thích thú, càng quyết tâm lao đầu vào yêu.

Mạ tôi lúc nào cũng đem anh ấy ra để"vạch lá tìm sâu" và cha tôi cứ tìm cách nhét những con sâu đó vào trong cái đầu của tôi, còn tôi thì khi nhận những con sâu ấy tôi đã đem băm vằm cho nó nát bấy và chôn thật sâu. Tôi nghỉ rất đơn giản: " người già thì có nhiều sâu hơn người trẻ". Và tôi càng yêu anh nhiều hơn, yêu luôn cả những con sâu anh có mà mạ tôi chưa kịp vạch ra.

Đến ngày nhập học, hai đứa tôi hẹn gặp nhau ở bến xe, anh sẽ đưa tiển tôi lên Đà Lạt. Tôi gởi hành lý cho bác tài xế, và leo lên ngồi sau chiếc xe gắn máy mà anh mượn của bạn, anh nói:

- Anh chở Thủy đi ăn sáng rồi đưa ra xe, sau đó anh về phi đoàn để đi bay.

Tôi không ngờ mạ tôi đã có sự nghi ngờ nên bà nhờ người quen chở ra bến xe tìm tôi, chỉ thấy đồ đạt mà không thấy tôi, bà giận điên người nên khi tôi từ trên xe anh bước xuống trước cổng bến xe, tôi vừa đến bên xe là mạ tôi bay vào túm tóc tôi đánh đấm túi bụi trước mặt đám đông như người ta đánh ghen. Bác tài xế nhảy vào can thiệp, lớn tiếng la mạ tôi là "ác mẩu", bác đẩy tôi vào trong xe, đóng sầm cữa lại…Anh có thấy hay không?

Suốt chặng đường từ Nha Trang lên Đà Lạt, tôi chỉ có một suy nghỉ duy nhất là: không bao giờ tôi rời xa anh.

Khi tôi học năm hai thì hai chị Lựu và chị Hiền học năm cuối, các chị vẫn được mời hát cho những đêm văn nghệ bỏ túi của sinh viên. Và một lần chị hát bài: "Còn một chút gì để nhớ", một bài hát rất mới, rất hay, từng lời từng chử thấm sâu vào trong tâm hồn tôi và tôi nghỉ rằng nhất định một ngày nào đó mình sẽ lên dạy học ở trên đó. Mổi cuối tuần sinh viên mới có thời khóa biểu cho tuần tới tùy theo sự sắp xếp của các Giaó sư ở SG nên có những tuần sinh viên phải học bù đầu bù cổ, ngược lại có tuần thì rất rãnh rang. Hai khoa: Sư Phạm và Văn Khoa không phải học gắc gao như bên Chính Trị Kinh Doanh hay Khoa học mà cứ tà tà…vừa học vừa rong chơi nên tôi có lắm thời gian " đuổi hoa bắt bướm".

Ngày nghỉ lể tôi phải về thăm nhà vì cha tôi bắt buộc như vậy, sợ rằng anh sẽ lên thăm tôi. Chưa bao giờ tôi có một mùa Gíang Sinh vô nghĩa đến như thế khi mà tôi bị cha mạ canh chừng như canh tù, cha tôi còn bắt tôi phải vào nhà thờ, mở sách thánh ra rồi đặt tay lên đó mà thề là không được yêu anh ấy nữa. Tôi nhất định không chịu mặc cho cha mạ tôi hò hét khóc lóc. Dù bị nghiêm cấm nhưng nhờ Vú che đậy và em trai tôi " đưa đường dẫn lối" nên hai đứa tôi cũng thường xuyên được gặp nhau.

Một ngày gần cuối năm cha mạ tôi thông báo một tin động trời:

- Cha mạ sẽ gả con cho anh H. con của ông N. Qua tết làm đám hỏi, chừng mô con ra trường thì đám cưới.

Tôi biết anh H. này rồi, nhà anh ta ở bên Đồng Đế, tôi ví nhà đó như một lò sản xuất ra toàn là giáo sư; cha của anh ta dạy pháp văn trường Lasan, anh của anh ta vừa là linh mục vừa là giáo sư thần học của Giaó Hoàng Học Viện Đà Lạt, em gái cũng là giáo sư, lạ một điều là cả nhà họ đếu dạy tiếng Pháp ở những trường nổi tiếng. Dưới con mắt của cha mạ tôi thì đó là một " mối ngon".

Cha tôi ép buộc tôi phải đi chơi, đi xem ciné, uống cà phê, ăn kem…v. v…và…v. v với anh H., sự ép buộc của cha cộng thêm mấy con sâu mạ tôi vừa bắt được ở nơi anh ấy tạo cho tôi một áp lực quá lớn. Tôi nhận lời đi chơi với anh ta cho khỏi bị tra tấn.

Anh H. đưa tôi đi ăn kem, tôi ngồi im lặng từ đầu tới cuối, anh ta nói nhiều lắm, vẽ ra cho tôi thấy một bức tranh đẹp trong đó có tôi và anh ta, anh ta nói đến chử hiếu và đạo làm con mà tôi phải thực hiện, cuối cùng anh ta nói một câu chắc nịch:

- Cha mạ em đã hứa gã em cho anh rồi đó, em phải nghe theo lời người lớn, quên anh chàng phi công đó ngay.

Trời đất, tôi nghỉ đầu óc anh H. này có vấn đề hơi lộn xộn, nơi anh ta có một con sâu róm khổng lồ đầy lông lá rất đáng sợ mà sao cha mạ tôi lại không nhìn thấy?

Ăn xong ly kem tôi nhất định đòi về. Tới cổng nhà tôi vừa quay lưng thì anh ta đưa tay nắm lấy tay tôi, tôi rùng mình ớn lạnh, lật đật rút tay ra và đi thật nhanh vô nhà, tôi ra sau sàn nước lấy xà bông rữa tay cho thật sạch, vừa kỳ cọ bàn tay tôi vừa cảm thấy có lổi với người yêu của mình khi đã để cho người khác chạm vào tay tôi, vì ngoài anh ấy ra không một ai được đụng vào tôi.

Em trai tôi chở tôi đi lễ nhà thờ DCCT Nha Trang, thật sự thì em tôi chở tôi đến chổ hẹn hò với anh, cha mạ tôi đã giao tôi cho em tôi canh giữ, tôi mừng lắm vì ông bà đã " giao trứng cho ác" mà không biết.

Tôi khóc với anh và bàn tính kế hoạch cho hai đứa:

- Anh ơi, anh xin đổi lên Pleiku làm việc đi anh, học hết năm nay Thủy sẽ lên sau. Năm thứ ba, thứ tư không cần phải thường xuyên có mặt trong giãng đường, lên đó mổi tháng Thủy về Đà Lạt lấy cour học hàm thụ cũng được, cuối năm thứ ba làm dự án, năm thứ tư làm luận án ra trường là được rồi. Có như rứa hai đứa mình mới được tự do yêu nhau, gặp nhau. Cha mạ bắt Thủy phải lấy ông H. đó anh.

Anh cũng than thở với tôi:

- Anh không thể xa Thủy, mà gặp nhau thì không được, yêu nhau lại bị cấm, khổ quá trời. Ừ thôi anh xin đổi lên Pleiku, lên trên đó buồn lắm à nghe, xứ toàn người Thượng không hà.

Tôi an ủi anh:

- Chỉ cần hai đứa mình có nhau, ở bên nhau là vui rồi.


Anh đổi lên Pleiku thật, nhận được thư anh kể về phố núi Pleiku buồn da diết, cuối thư anh còn viết: " Thủy mà không lên đây với anh chắc anh buồn mà chết quá," tôi thương anh đứt ruột và xót xa trong lòng. Tôi quyết định bằng mọi giá phải lên trên đó với anh.

Tôi biết ở Pleiku có Linh mục Nguyễn Viết Nam là bạn thân với cha tôi thời kỳ ông còn làm trưỡng khu dinh điền ở trên đó theo lệnh của TT Ngô Đình Diệm, tôi xin cha tôi địa chỉ của Ngài và viết thư thăm hỏi, nhờ vả…May mắn thay trường Trung Học Minh Đức 2 của ngài thiếu giáo sư trầm trọng vì nó ở rất xa thành phố, thế là tôi có hậu thuẩn mạnh mẽ. Không ai biết anh ấy đã đổi lên Pleiku được mấy tháng và đang nóng lòng chờ đợi tôi.

Tết năm đó tôi không về nhà ngay mà mua vé máy bay lên thăm anh, tôi ra bưu điện đánh điện tín cho anh biết chuyến bay, giờ máy bay cất cánh và giờ máy bay hạ cánh. Rồi tôi viết cho cha mạ một lá thư, xin phép cho tôi qua nhà cô bạn cùng lớp ở Thái Phiên chơi mấy ngày trước khi về nghỉ Tết. Tôi đã nói láo một cách rất là trơn tru…

Khi máy bay quay vòng và đáp xuống phi trường, nhìn qua khung cửa sổ nhỏ tôi thấy anh đang ngồi bên thềm nhà khách, trời ơi, giây phút chờ cho động cơ máy bay ngừng hẵn sao mà dài như cả thế kỷ, rồi khi người ta mở cánh cửa máy bay ra tôi đã thấy anh đứng ngay bên dưới, sát chân cầu thang, tôi nhảy từng ba bật một, vèo một cái là anh đã ôm gọn tôi vào lòng…

Tôi ở nhà xứ của cha Nam một tuần, chúng tôi vô cùng hạnh phúc sung sướng, cả bầu trời, cả thế giới là của chúng tôi. Hai đứa tôi kể hết sự tình cho cha Nam nghe và xin ngài giử im lặng dùm, nếu không thì tôi sẽ bị nhốt vào " tù"…Dĩ nhiên là ngài đồng ý để " đôi bên cùng có lợi". Trước tết hai ngày tôi mới về lại Nha Trang, và nhất đình không trả lời bất cứ câu hỏi nào của hai quan tòa: cha và mạ.

Sau những ngày nghỉ Tết tôi trở lại Đà Lạt tiếp tục học cho hết niên học và nóng lòng chờ đợi câu trả lời của vị cứu tinh: cha Nam.

Nhận được sự vụ lệnh do cha Nam gởi về, tôi đưa cho cha mạ xem, ông bà mừng lắm, cứ nghỉ rằng tôi mà lên đó dạy học là coi như không thể nào tiếp tục yêu, tiếp tục gặp anh ấy vì ông bà đinh ninh anh vẩn đang làm việc ở Nha Trang. Và nhất là tôi được vào dạy ở ngôi trường lớn nhất thành phố Pk, chừng năm sau ông bà sẽ tiến hành cho anh chàng H.cưới tôi…


Tháng chín tôi lên Pleiku, anh đón tôi ở phi trường Cù Hanh, hai đứa tôi choán ngợp vì hạnh phúc khi được ở bên nhau. Tôi đến trình diện thầy Lập- hiệu trưỡng trường trung học PK- người đầu tiên tôi quen là cô thư ký của trường tên Tuyết Nhung, vì đồng trang lứa lại là đồng hương nữa nên dễ làm thân, tiếp đến là bác Vơn- kế toán của nhà trường. Thầy Lập viết cho tôi mấy chữ, biểu tôi xuống phòng giám học đưa cho anh Cư để nhận lớp. Anh Cư biểu tôi ngồi chờ ở phòng giáo sư, anh sẽ xếp thởi khóa biểu cho tôi sau.

Đang ngồi ngơ ngác nhìn quanh phòng thì một anh- sau này mới biết là anh Cẫn giám thị trường- đến đuổi tôi ra ngoài vì " đây là phòng giáo sư, học sinh không được ngồi trong này". tôi nhìn lại bộ áo dài trắng mình đang mặc trên người, nó rất dễ gây ngộ nhận.

Nhờ vợ thầy Lập chỉ dùm mà cha Nam mướn được cho tôi một căn phòng nhỏ trên gác xép của anh chị Ninh, số 7 đường Tăng Bạt Hổ, nói đúng hơn đây chỉ là một cái kho cất toàn những thứ " hằm bà lằn xắn cấu" đầy mùi ẩm mốc, nhưng không sao, anh nói chừng nào hai đứa cưới nhau tôi sẽ về ở cùng anh trong cư xá, anh sẽ năn nỉ sang thêm cái phòng bên cạnh của người bạn để nới ra cho rộng thành " tổ ấm của chúng mình".

Thời khóa biểu của tôi như sau: từ thứ hai cho đến chiều thứ tư tôi dạy ở trường trung học Pleiku, mấy ngày đó tôi ở nhà chị Ninh. Chiều thứ Tư anh đưa tôi về Phú Thọ dạy trường của cha Nam cho đến chiều thứ bảy, những ngày đó tôi ở trong nhà xứ của cha. Nếu Chúa nhật không thích ở trên phố thì chiếu thứ bảy anh về Phú Thọ với tôi để sáng thứ hai đưa tôi lên phố thật sớm cho kịp giờ tôi dạy học và anh vào phi trường để bay, thường thì hai đứa vào cà phê Văn uống một ly cà phê sữa nóng, anh đưa tôi đến tận cổng trường rồi mới quay đi.

Những tháng ngày được ở bên nhau thật tuyệt vời, có những buổi chiều khi tôi ở Phú Thọ anh lái máy bay lượn mấy vòng tròn trên tháp chuông nhà thờ, chỉ cần nghe tiếng ù ù của chiếc L19 tôi biết ngay đó là anh, tôi chạy ra sân thấy rỏ anh đang nhìn xuống vẩy vẩy tay chào, khoãng chừng một giờ sau là anh từ ngoài con đường đất đỏ lững thững đi vào. Chúng tôi lúc nào cũng tay nắm lấy tay nhau không muốn rời ra dù là chỉ một phút hay thậm chí là một giây, thích nhất là những ngày trời mưa, anh không đi bay, tôi được nghỉ dạy vài giờ, chúng tôi ngồi bên nhau, tay trong tay bên ly cà phê sữa nóng trong quán Vị Thủy, nhìn mưa rơi bên ngoài, cảm giác ấm cúng, ngọt ngào không sao diễn tả cho hết, hai đứa bàn chuyện về con cái: sẽ có bao nhiêu con, mấy trai mấy gái…, về cách sống với nhau, anh hứa sẽ nhường nhịn, nâng niu tôi, sẽ không để cho tôi buồn rầu, đau khổ hay phải chịu vất vã cực nhọc thân xác…

Buồi tối anh thích ngồi trên cái giường sắt của tôi ngủ để nhìn tôi chấm bài, mổi khi tôi chấm bài cho học trò, anh hay hỏi:

- Có lá thư tình nào của học trò nhét trong đó không?

Vì một lần anh lấy được từ trong xấp bài tập của học trò ra một lá thư tình gởi cho "cô Thủy". Tôi cười trả lời anh:

Đã nói là Thủy chỉ cần có anh mà thôi.

Hai đứa tôi rất thích bàn tính chuyện mai sau, và dành dụm tiền để lo cho đám cưới. Anh nói với tôi:

Đám cưới của tụi mình anh sẽ mặc lể phục không quân, Thủy mặc áo dài Trắng, anh xin với cha Tuyên Uý còn Thủy thì xin cha Nam, hai cha cùng làm lể cưới cho tụi mình, cha mạ anh ngoài Huế vô với mấy đứa em, không có cha mạ Thủy, Thủy có tủi không?

Tôi cười trong sung sướng:

- Thủy chỉ cần có anh thôi, anh Thăng với Thống hứa sẽ lên, hai người làm nhà gái.

Pleiku nhỏ xíu, đi lên đi xuống đã về chốn cũ rồi. Ngày nào anh cũng đến trường đón tôi, ngày nào hai đứa cũng đi lên đi xuống lòng vòng mấy con đường, ngồi quen ở mấy quán cà phê. Một lần trong phi đoàn của anh mở tiệc sinh nhật của phi đoàn, anh không dự mà đến với tôi, đưa tôi đi ăn cháo tôm, đi xem cinéma ở rạp Diệp Kính, ngồi trong rạp anh cầm tay tôi đưa lên ngực phía bên trái tim anh mà nói:

- Thủy ở mải nơi đây, trong trái tim anh, không bao giờ mình xa nhau nghe Thủy.

Tôi gật đầu và nép vào vai anh, hạnh phúc thật tràn trề. Khi hết phim chúng tôi đi về trên con đường thanh vắng, trăng sáng ở trên cao soi bóng tôi hòa vào bóng anh. Trước cổng nhà chị Ninh có cây hoa Ngọc Lan, nó là nhân chứng thầm lặng và làm thơm chuyện tình của chúng tôi.

Tôi yêu anh nồng nàn say đắm bằng tất cả trái tim, anh cũng yêu tôi vô cùng tận.

Chuyện của chúng tôi không dấu mãi được, cha mạ tôi biết chuyện đã xin cơ quan nghỉ mấy ngày lên tận Pleiku để làm dữ, bắt buộc tôi phải về Nha Trang "- không dạy học thì thôi…nhưng con phải xa hắn ra",cũng may anh ở trong phi trường, tôi báo tin cho anh biết, tạm thời hai đứa không gặp nhau, cứ " án binh bất động" chờ tới lúc ông bà về lại Nha Trang. Riêng tôi thì cứ " bình chân như vại", mấy ngày đó không được gặp nhau hai đứa tôi nhớ nhau điên cuồng.

Tôi đang làm luận án năm cuối để ra trường, ra trường rồi chúng tôi sẽ làm đám cưới, không còn cảnh hai đứa ở hai nơi như bây giờ: đứa thì trong phi trường, đứa ở ngoài gác trọ…mà chúng tôi sẽ ở chung một nhà, không có gì chia lìa được chúng tôi.


Tôi đâu có ngờ, cuộc tình của chúng tôi đẹp như mơ, cứ ngỡ rằng không bao giờ chia lìa nhau. Anh về tận Huế để làm cho tôi tờ Sơ yếu lý lịch số ba rồi bắt tôi đưa khai sinh để anh xin phép bên an ninh làm hôn thú với tôi, nhưng cùng lúc đó bác Vơn kêu tôi làm hồ sơ đề xin vào ngạch trật, tôi lưỡng lự chưa vội đưa khai sanh như lời anh nói. Rồi đến một buổi chiều cha Nam đi ra phố về, kêu tôi lại, đưa cho tôi một lá thư và nói:

Đây là thư của cha con gởi cho con, đọc xong thì đốt đi, không được đưa cho anh ấy xem. Nhớ nhé.

Tôi hồi hộp, tim đập mạnh, những mạch máu trong người như muốn vở ra, tôi đọc thật nhanh vì tôi thường có cảm giác sợ hải bất an mổi lần nhận được thư cha, khi mắt tôi bắt gặp giòng chử " cha mạ cho phép hai đứa cưới nhau" thì tôi sung sướng quá, không cần đọc gì thêm, tôi khoe với cha Nam:

- Cha ơi, tin vui mà, cha mạ con đồng ý cho hai đứa con cưới nhau rồi.

Cha Nam bỉu môi:

- Xì, con ngu bỏ mẹ, không hiểu ông ấy muốn viết gì à? Nghe lời khuyên của cha, đốt lá thư này đi.

Tôi không hiểu điều gì khiến tôi bỏ đi lời khuyên của cha Nam mà lại đưa lá thư ấy cho anh xem vào một tối khi anh đến thăm tôi như thường lệ, tôi chỉ nghỉ một điều: cha mạ tôi đã đồng ý cho hai đứa lấy nhau…

Đọc xong lá thư của cha tôi, anh ra về sớm hơn mọi lần, anh còn mượn lá thư đem về để đọc cho kỷ. Đêm sau anh đến, nói với tôi một câu làm cho tôi nghẹn thở:

- Anh nghỉ kỷ rồi, hai đứa mình chia tay nhau thôi.

Rồi anh ra về. Đi nhanh như chạy trốn tôi, đó là một đêm mưa rất to.


Phố núi buồn như chưa bao giờ buồn. Những ngày tháng xa anh ấy tôi như bị một làn sương mù dày đặc vây quanh, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo như người bị mắc bịnh quáng gà, tôi đi đến đâu cũng mang theo trong tim ngàn vạn nổi nhớ về anh và một tâm hồn rướm máu, vì bất cứ nơi đâu cũng đều ghi dấu chân kỷ niệm của chúng tôi. Cha mạ tôi có biết rằng chính ông bà đã giết chết tôi trong nổi đau đớn này không? Làm sao mà tôi có thể quên được anh ấy khi giữa hai chúng tôi có biết bao kỷ niệm với đủ thứ mùi vị chua cay đắng mặn và những tháng ngày hạnh phúc tuyệt vời trong men say mật ngọt. Cha mạ tôi đã phá nát mối tình đầu của tôi, làm cho trái tim tôi lúc nào cũng nhức nhối.

Tôi bắt đầu đi chơi nhiều, chiều nào tan trường cũng lên phòng thư ký rủ Nhung đi lang thang, điểm dừng của hai đứa tôi bao giờ cũng là một quán cà phê nào đó, không nhất thiết phải là Vị Thủy, hay là một hàng bún, phở, bánh bèo…chẳng có mục đích gì cả, Nhung ưa hỏi tôi:

- Răng Thủy buồn hoài rứa?

Tôi trả lời:

- Thủy muốn chết đây, chớ buồn mà sá chi.

Nhung xoa xoa sau lưng tôi, không hỏi tiếp. Tôi rất sợ sau mổi lần đi chơi, về lại phòng trọ nhà chị Ninh, nghe tiếng nhạc từ phía rạp ciné Thanh Bình vọng lại, những bản nhạc Pháp mà tôi và anh thường nghe mổi lần ngồi bên nhau, trong căn gác xép này, cũng từ rạp hát vọng qua, tim tôi như bị dao đâm, đau đớn không thể nào chịu nổi, và khi chịu không nổi thì chỉ có khóc mà thôi. Đêm về trong giắc ngủ chập chờn tôi luôn bị hoãng loạn trong một nổi cô đơn vô cùng khủng khiếp. Chị Ninh thắc mắc:

- Sao lâu quá mà không thấy cậu B. đến thăm em? Chừng nào thì hai đứa cưới?

Tôi không nói cho chị biết là chúng tôi đã chia tay nhau rồi.

Mùa hè đến, học sinh bải trường nhưng tôi không về nhà mà ở lại xin được làm giám thị phòng thi của khoa thi tú tài toàn.

Phòng thi tôi làm giám thị có một anh chàng cao cao ốm ốm, đôi mắt rất đẹp, tôi kiểm phiếu báo danh để biết tên: Nguyễn thành Tấn, lính không quân…cái gì có dính líu về anh ấy dù chỉ một chút xíu thôi cũng làm cho tim tôi nhói một cái.

Tôi đến bên cạnh Tấn, nói với cái giọng rất là cô giáo:

- Làm bài đi chứ, đọc cho kỷ rồi đánh dấu vô chử A hay B, C, D…

Tấn cà rởn với tôi:

- Cô chỉ bài cho tôi nghen, thi đậu tôi cưa cho cô nữa cái bằng.

Tôi trả lời:

- Lở thi hỏng thì răng?

Anh chàng cười, nói đùa rất bạo:

- Thì tôi cưa cho cô phân nữa đời tôi đây nè.

Tôi ngượng quá bỏ đi lên bàn, ngồi nhìn xuống phía dưới, trong lòng chỉ là một sự trống trải to lớn vây quanh. Buổi sáng thi xong cậu học trò của trường chở tôi về gác trọ, buồn và cô đơn kinh khủng, tôi lại xuống phố tới vào nhà sách tìm một cuốn truyện nào đó mua về đọc để giết thời gian …thì gặp Tấn từ dưới dốc đi lên, anh chàng cười chào tôi, hỏi:

- Cô đi đâu cho tôi theo với.

Không chờ câu trả lời của tôi, Tấn quay lại đi theo tôi một đoạn đường, lại hỏi:

- Cô tên gì? Dạy trường nào? Nhà ở đâu?

- Tôi tên Thủy, dạy trường Trung Học Pleiku, nhà ở Nha Trang.

- Sao cô nói giọng Huế?con gái nói giọng Huế hay ghê, tôi thích lắm đó. Cho tôi làm quen với cô há, tôi đưa cô về há?, cô mướn nhà ở đâu?

Tôi cười vì Tấn hỏi một loạt không ngừng để cho tôi kịp trả lời.

- Anh nghe đây: quê nội ngoại tôi ở Huế, tôi mướn một căn gác xép nhỏ xíu trên đường Tăng Bạt Hổ. Còn hỏi chi nữa không?

- Còn chớ, cô học ở đâu mà lên cái xứ khỉ ho cò gáy này để dạy vậy? Ngày mai cô còn gác thi phòng tôi nữa không? Gác phòng tôi cho vui nha, chỉ bài cho tôi nữa.

Đã đến nhà rồi, tôi chào tạm biệt Tấn rồi lên phòng, chị Ninh kêu xuống ăn cơm, chị ưa nấu canh trứng, cà chua với mẽ, cái mùi mẽ khó chịu tôi không sao ăn nổi, lúc trước mổi lần tôi làm biếng ăn cơm, anh thường dẩn tôi đi ăn ở tiệm, lương tháng của phi công không nhiều, nuôi cơm tôi gần hết. Bây giờ tự mình vô chợ ăn tầm bậy tầm bạ cho no bụng.


Tấn rất hay đến tìm tôi nơi nhà chị Ninh, sau khi gác thi xong tôi về nhà xứ của cha Nam ở, cha cứ mắng tôi ngu mổi lần thấy tôi khóc vì nhớ và buồn, cha đã dặn rồi, đốt lá thư của ông ấy đi, đừng đưa cho anh xem, thế mà… mắng cho đã cơn giận cha lại an ủi:

- Thôi con ạ, rồi thời gian sẽ làm lành mọi vết thương trong lòng con.

Tấn tìm đến tận Phú Thọ thăm tôi rất nhiều lần, một buổi sáng Tấn xuống Phú Thọ rất sớm và rủ tôi đi lên phố xem ciné, tôi cũng đi nhưng khi ra tới phố, lúc Tấn vào tiệm Cao Nguyên mua bánh Paté chaud để vừa xem phim vừa ăn thì tôi nhất định đòi về. Nhiều khi tôi không còn hiểu được mình, hình như cuộc sống của tôi bị mất phương hướng, cây kim chỉ nam trong đầu tôi cứ quay lung tung.

Cha mạ tôi viết thư thúc hối tôi về Nha Trang, nghỉ hè trôi qua đã hai tháng rồi mà không thấy tăm hơi tôi đâu cả. Nhưng không thể nào không về nhà, tôi không nói gì với cha mạ, và khi cha mạ vừa mới khơi chuyện thì tôi bỏ đi. Buồn lắm, khi thành phố Nha Trang không nơi nào mà không có bóng hình anh.

Tôi quyết liệt phản đối chuyện cha mạ tôi tổ chức lể hỏi cho tôi và anh H, tôi nói rất cứng rắn là tôi sẵn sàng chết hơn là lấy anh ta, tôi cũng nói với ông bà rằng:

- Cha mạ đã giết chết con một lần rồi, đừng giết con thêm lần nữa.

Tôi cũng nói riêng với anh H.

- Anh đừng cưới tôi, bây giờ tôi chỉ là cái xác không hồn mà thôi.


Không hiểu sao tôi trở lại Pleiku để dạy tiếp, hình như tôi cứ bị trôi đi trong vô thức. Tuyết Nhung vẩn là người bạn thân duy nhất để tôi tìm đến mổi khi tôi buồn và khóc, mà ngày nào thì tôi cũng buồn.

Cha Nam nhận thêm một giáo sư tên Hằng vào dạy, bấy giờ tôi mới biết Hằng là em của chị Bích dạy cùng trường với tôi ở trên phố, hai đứa con gái đồng trang lứa nhanh chóng quen nhau. Hằng cho biết đang ở cùng với bố mẹ, chị Bích và các em.

Hằng rủ tôi về nhà chơi, nhà Hằng đông người quá trời, tôi đếm có đến mười bảy người, có em trai của Hằng là Khải đi lính bị thương đang được ở nhà dưỡng thương. Tôi thường đi chơi với chị em của Hằng, tôi đang rất buồn và đang muốn quên, mà tôi nào còn phướng hướng gì đâu?

Thật bất ngờ khi Pleiku chộn rộn chuyện di tản, những ngày đó tôi cứ chạy ra chạy vào cổng phi trường, chạy qua chạy lại nhà chị Bích. Rồi khi sự hoãng loạn trong thành phố lên đến đỉnh điểm, một sáng tôi vô phòng thư ký của trường để kiếm Nhung thì… trống không. Nhung đi đâu mất tiêu, chạy về nhà chị Ninh thì chỉ nhận được một mảnh giấy nhỏ anh chị viết gởi lời chào tạm biệt tôi.

Gia đình chị Bích là cái phao để cho tôi bám vào trong lúc này, tôi không dám xa gia đình chị một bước. Cám ơn Chị và tất cả những người trong gia đình chị đã đưa cái phao ra cho tôi bám vào, mãi mãi tôi không bao giờ quên.

Tôi rời xa thành phố có rất nhiều kỷ niệm của tôi và anh ấy, thành phố mà từng con đường, từng góc phố đều in dấu bước chân của chúng tôi; vào một ngày mà tất cả mọi người cùng nhau bỏ ra đi để lại một Phố núi quạnh hiu buồn tủi.


Một buổi sáng ngày thứ năm, tháng năm của năm 1975, lúc đang lang thang trên con đường Nguyễn Huệ ở Sài Gòn, thì tôi tình cờ gặp lại Tấn như một mối tơ duyên tiền định. Tấn theo tôi về nhà và từ đó hai đứa tôi trở nên thân thiết. Tấn làm cho tôi quên được những năm tháng đau buồn, tôi trở thành một người khác: vui vẻ, yêu đời trở lại, đôi mắt tôi không còn bị vương vướng bởi cái màng mỏng mờ mờ ảo ảo, nó đã được Tấn xé rách.

Nhưng Pleiku với tôi là huyền thoại, mà huyền thoại thì bao giờ cũng đẹp, cũng đáng yêu, đáng nhớ. Không phải là " còn chút gì để nhớ" mà còn rất…rất…nhiều đ ể nhớ.


CHIỀU CHẬM ĐƯA CHÂN NGÀY HỒ THỦY

          CHIỀU CHẬM ĐƯA CHÂN NGÀY HỒ THỦY T   rong làng mọi người đều trầm trồ, tấm tắc khen: - Chà chà!... đám cưới của ch...